Chính sách và thành tựu

Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2008
01/08/2008 10:25:00


ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI NĂM 2008
Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2008, năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 được xây dựng trong bối cảnh thời cơ, thuận lợi rất lớn từ những thành tựu đạt được sau hơn 20 năm đổi mới, nhất là năm 2006 và 2007; từ đó đã xác định quyết tâm hoàn thành cơ bản nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm ngay trong năm 2008, tạo tiền đề để hoàn thành sớm kế hoạch 5 năm 2006 - 2010.
Từ những tháng cuối năm 2007, những biến động không thuận của kinh tế thế giới, những khó khăn trong nước và những hạn chế yếu kém trong chỉ đạo điều hành đã làm cho tình hình kinh tế quý I năm 2008 có những diễn biến bất lợi, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống, đe doạ nghiêm trọng ổn định kinh tế vĩ mô.
Chúng ta đã nghiêm túc phân tích thực trạng này, cân nhắc thận trọng và quyết định chuyển hướng, xác định nhiệm vụ trọng tâm là: Phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng hợp lý, bền vững; trong đó, kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu; đã điều chỉnh giảm chỉ tiêu tăng trưởng và tập trung mọi nỗ lực để thực hiện đồng bộ 8 nhóm giải pháp lớn[1].
Những tháng tiếp sau, kinh tế thế giới tiếp tục suy giảm và biến động rất phức tạp, giá cả tăng cao, lạm phát diễn ra trên quy mô toàn cầu; ở trong nước, thiên tai, dịch bệnh gây thiệt hại nặng nề làm cho việc kiềm chế lạm phát càng khó khăn hơn. Chính phủ đã chủ động theo sát tình hình, phân tích các diễn biến, tiếp thu các ý kiến đóng góp xác đáng, đề cao trách nhiệm, quyết liệt chỉ đạo điều hành thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sự ủng hộ và giám sát của Quốc hội, sự đồng tâm hiệp lực của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng doanh nghiệp, đến nay tuy khó khăn thách thức còn nhiều nhưng tình hình kinh tế, xã hội đã có những chuyển biến tích cực. Từ kết quả đạt được trong 9 tháng và ước định khả năng thực hiện của những tháng còn lại, Chính phủ đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2008 như sau:
NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU
1. Việc kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô đạt được kết quả bước đầu quan trọng
Đã triển khai khẩn trương và đồng bộ 8 nhóm giải pháp; trong đó, tập trung chỉ đạo kiên quyết việc thắt chặt tiền tệ và tài khoá; đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, hạn chế nhập siêu; tăng cường quản lý giá cả, ngăn chặn đầu cơ, bình ổn thị trường.
Điều hành thận trọng, linh hoạt các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, tín phiếu bắt buộc; điều chỉnh cơ cấu tín dụng, kiểm soát chặt việc cho vay kinh doanh bất động sản, chứng khoán, vay tiêu dùng, tập trung vốn cho sản xuất và xuất khẩu, bảo đảm tính thanh khoản của các ngân hàng và cả nền kinh tế; hạn chế tăng tổng phương tiện thanh toán cả năm xuống còn khoảng 18% và tổng dư nợ tín dụng khoảng dưới 30%[2]; tăng cường quản lý các ngân hàng thương mại, trợ giúp các ngân hàng yếu kém vượt qua khó khăn; ban hành các quy định thích hợp để nâng cao hiệu quả, tính an toàn và cũng là tiêu chí để cấp phép lập ngân hàng mới. Các ngân hàng thương mại nhà nước đã đóng góp quan trọng vào việc thực hiện chính sách tiền tệ. Lãi suất ngân hàng ổn định hơn, đã và đang giảm dần cùng với việc giảm của tốc độ tăng giá.
Trước tình hình tỷ giá biến động rất phức tạp gây tâm lý bất ổn trong xã hội, Chính phủ đã khẳng định không phá giá đồng tiền Việt Nam, công khai dự trữ ngoại hối, áp dụng tỷ giá linh hoạt với biên độ phù hợp, can thiệp hợp lý, đủ mạnh vào quan hệ cung cầu, đồng thời kiểm soát chặt kinh doanh ngoại tệ và giảm mạnh nhập siêu. Tỷ giá giữa VNĐ với USD và các ngoại tệ khác đã ổn định trở lại.
Mặc dù giá cả tăng cao nhưng không điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư tương ứng; đã đình hoãn, giãn tiến độ trên 3.100 công trình dự án với khoảng 37.000 tỷ đồng vốn từ nguồn ngân sách và vốn của doanh nghiệp nhà nước[3]; cắt giảm khoảng 9.000 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ. Tiết kiệm 2.700 tỷ đồng chi thường xuyên của các cơ quan đơn vị thụ hưởng ngân sách.
Thu ngân sách năm 2008 vượt dự toán[4], góp phần giải quyết tốt các nhiệm vụ chi trong kế hoạch, tăng trợ cấp an sinh xã hội, tạo nguồn bù lỗ giá xăng dầu và giảm bội chi ngân sách[5].
Những tháng đầu năm nay, nhập siêu tăng mạnh, riêng quý I là 8,3 tỷ USD, bằng 62,4% kim ngạch xuất khẩu, đe doạ nghiêm trọng ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là cung cầu ngoại tệ và tỷ giá. Đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh xuất khẩu, đi đôi với kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu để giảm nhập siêu[6]. Đến hết quý III, nhập siêu là 15,8 tỷ USD, bằng 32,5% kim ngạch xuất khẩu; ước cả năm, nhập siêu khoảng 19 tỷ USD, bằng khoảng 29% kim ngạch xuất khẩu (tương đương năm 2007).
Tăng cường chỉ đạo công tác quản lý thị trường giá cả, chống đầu cơ, buôn lậu; điều chỉnh thích hợp giá xăng dầu và từ tháng 9, đã kiên quyết thực hiện cơ chế giá thị trường, xoá bù lỗ đối với mặt hàng này.
Cán cân thanh toán quốc tế được bảo đảm; ước cả năm 2008 thặng dư khoảng 2,7 tỷ USD. Dự trữ ngoại hối được tăng thêm, góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô. Từ tháng 6 năm 2008, mức tăng giá tiêu dùng đã giảm dần[7], tháng 9 tăng 0,18%, tính chung 9 tháng giá tiêu dùng tăng 21,87%, dự báo cả năm 2008 tăng khoảng 24%.
2. Nền kinh tế duy trì được mức tăng trưởng khá trong điều kiện lạm phát cao
Tăng trưởng GDP cả năm ước đạt khoảng 6,5 - 7%[8]; trong đó, nông nghiệp tăng 3,5 - 3,9%; công nghiệp và xây dựng tăng 7,3 - 7,5%, dịch vụ tăng 7,2 - 7,8%; GDP bình quân đầu người đạt trên 1.000 USD[9].Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, giá đầu vào tăng cao nhưng nông nghiệp vẫn đạt được những kết quả nổi trội: giá trị sản xuất ước tăng 5,1% (năm 2007 tăng 4,6%); sản lượng lúa tăng khoảng 2,6 triệu tấn, là mức tăng cao nhất từ trước đến nay[10], thuỷ sản tăng gần 9,0%. Giá trị sản xuất công nghiệp ước tăng 16,2% (năm 2007 tăng 17,1%). Nhiều ngành dịch vụ phát triển khá, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng 31% (năm 2007 tăng 22,7%).
Xuất khẩu năm 2008 tăng cao. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đạt 48,6 tỷ USD tăng 39% so với cùng kỳ năm 2007 (cùng kỳ tăng 19,4%); ước cả năm đạt trên 65 tỷ USD, tăng 33,9% là mức tăng cao nhất trong 10 năm qua (năm 2007 tăng 21,9%). Xuất khẩu tăng ngoài yếu tố tăng giá, còn do lượng hàng tăng (khoảng 30%) và thị trường xuất khẩu được mở rộng. Đây là yếu tố cơ bản làm giảm nhập siêu, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, thể hiện năng lực nội sinh của các ngành sản xuất và sự năng động của các doanh nghiệp trong điều kiện nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới.
Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn, tổng công ty đều hoàn thành vượt kế hoạch, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu và giữ ổn định thị trường. Khu vực dân doanh, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa tuy gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt kết quả khá, giá trị sản xuất công nghiệp tăng khoảng 22%; số doanh nghiệp mới thành lập tiếp tục tăng thêm[11]; ước cả năm, tổng vốn đầu tư khu vực dân doanh khoảng 180 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2007. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ước cả năm có số vốn đăng ký trên 60 tỷ USD, gấp khoảng 3 lần so với năm 2007, vốn thực hiện khoảng 10 - 11 tỷ USD[12]. Vốn ODA cam kết nhiều hơn[13], đến hết tháng 9 các nhà tài trợ đã ký hiệp định cung cấp trên 1,8 tỷ USD; đã giải ngân trên 1,4 tỷ USD, đạt 74,5% kế hoạch năm. Đây là kết quả của việc môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện, thể hiện niềm tin của các nhà đầu tư, các nhà tài trợ vào triển vọng phát triển của đất nước ta; đồng thời khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước là: kiềm chế lạm phát nhưng vẫn duy trì tăng trưởng hợp lý và gây dựng tiền đề cho sự phát triển cao, bền vững trong những năm sau.
3. An sinh xã hội được quan tâm và triển khai thực hiện có hiệu quả
Ngay từ đầu năm 2008, cùng với việc chỉ đạo thực hiện tốt các chương trình, đề án về an sinh xã hội có tính cơ bản lâu dài thuộc kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, chúng ta đặc biệt coi trọng giải quyết những yêu cầu về an sinh xã hội cấp bách theo 3 hướng: Nâng mức hỗ trợ, mở rộng đối tượng thụ hưởng theo chính sách đã có và ban hành thêm nhiều chính sách mới[14].
Tổng ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội năm 2008 khoảng 19.800 tỷ đồng, tăng khoảng 14.700 tỷ đồng so với thực hiện năm 2007. Ngoài ra, tính đến hết tháng 9 năm 2008 đã cấp không thu tiền trên 40.000 tấn gạo cho đồng bào vùng bị thiên tai, thiếu đói; miễn giảm thuỷ lợi phí và một số loại phí, lệ phí khác, bãi bỏ và giảm một số khoản huy động từ nhân dân khoảng 1.200 tỷ đồng. Hỗ trợ thông qua 12 chương trình tín dụng ưu đãi[15] cho hộ nghèo, đồng bào dân tộc, gia đình chính sách và một số đối tượng khó khăn khác để đầu tư phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, làm nhà ở, định canh, định cư, nước sạch và vệ sinh môi trường, sinh viên học sinh nghèo đi học... Tổng số vốn cho vay ưu đãi trong 9 tháng là trên 20.000 tỷ đồng, ước thực hiện cả năm khoảng 28.000 tỷ đồng, tăng 36% (khoảng 7.000 tỷ đồng).
Trong năm 2008 ngân sách nhà nước cũng đã chi khoảng 28.900 tỷ đồng để điều chỉnh tăng lương tối thiểu và điều chỉnh tăng lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công, người lương thấp.
Trong điều kiện thiên tai dịch bệnh và lạm phát tăng cao, các trợ giúp này đã góp phần thiết thực làm giảm bớt khó khăn cho sản xuất và đời sống của nhân dân.
4. Các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, thông tin và bảo vệ môi trường được chú trọng
Giáo dục và đào tạo có những chuyển biến tích cực cả về quy mô và chất lượng: đã có 46 tỉnh được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tăng 7 tỉnh so với năm 2007. Việc chống tiêu cực trong thi cử tiếp tục được thực hiện có kết quả. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông cao hơn năm học trước. Việc đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp trong các trường đại học, cao đẳng đã có bước chuyển mạnh mẽ hơn. Đến nay đã có 23 chuyên ngành khoa học công nghệ và kinh tế bậc đại học áp dụng chương trình giảng dạy tiên tiến của các trường đại học trên thế giới. Việc xây dựng một số trường đại học chất lượng cao đang được triển khai tích cực. Chính sách tín dụng cho sinh viên học sinh nghèo được xã hội đánh giá cao.
Cơ chế quản lý khoa học, công nghệ tiếp tục được đổi mới. Các nhiệm vụ khoa học, công nghệ được triển khai đã góp phần tích cực vào việc hoạch định chính sách, phát triển kinh tế, xã hội. Các biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện có hiệu quả hơn.
Hệ thống y tế được củng cố và phát triển, nhất là tuyến huyện, đã góp phần giảm dần tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến trên. Y tế xã, thôn bản tiếp tục được tăng cường[16]. Công tác khám, chữa bệnh được nâng lên cả về chất lượng chẩn đoán và điều trị. Phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là HIV/AIDS và các dịch bệnh mới phát sinh được coi trọng, không để xảy ra các dịch bệnh lớn.
Lĩnh vực thông tin, văn hoá có bước phát triển mới, đáp ứng tốt hơn nhu cầu về thông tin, góp phần nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của nhân dân, phục vụ tốt việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Đã triển khai nhiều biện pháp thiết thực, nhất là thanh tra, kiểm tra để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường.
5. Cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có những chuyển biến tích cực
Đã khẩn trương triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Tổ chức các Bộ và cơ quan chuyên môn của chính quyền địa phương tiếp tục được kiện toàn. Chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, bảo đảm sự ổn định và tính liên tục trong các hoạt động của Thủ đô.
Đang tập trung rà soát 14 loại thủ tục hành chính còn gây khó khăn, phiền hà cho người dân và doanh nghiệp; đã công khai, minh bạch và đơn giản hoá việc đăng ký kinh doanh, kê khai nộp thuế, đăng ký phương tiện giao thông, xuất nhập cảnh; đang tích cực rà soát để giảm tối đa đối với 33 thủ tục trong đầu tư xây dựng. Nhiều Bộ, địa phương triển khai có kết quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông, làm thêm ngày thứ 7 để giải quyết các yêu cầu thiết thực của nhân dân. Một số dịch vụ công đã được xã hội hoá đem lại kết quả tích cực.
Các Bộ, địa phương đã triển khai thực hiện chương trình kế hoạch về phòng chống tham nhũng; coi trọng việc phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm. Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng của Trung ương và các địa phương được kiện toàn về tổ chức và hoạt động. Công tác hoàn thiện thể chế, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng chống tham nhũng được đẩy mạnh. Việc điều tra và xử lý các vụ việc tham nhũng được thực hiện đúng pháp luật.
Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được các ngành, các cấp, các doanh nghiệp và nhân dân hưởng ứng tích cực. Nhiều doanh nghiệp đã có các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên trong 8 tháng cuối năm (tương đương 25% dự phòng ngân sách nhà nước năm 2008) được bổ sung cho việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh.
6. Hoạt động đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế đạt được nhiều kết quả
Việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã đạt được kết quả khá toàn diện, tiếp tục củng cố và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế, góp phần thiết thực phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Đã chủ động triển khai có hiệu quả nhiều hoạt động đối ngoại song phương, nhất là các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước đạt được những kết quả quan trọng, đưa quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững hơn. Công tác phân giới cắm mốc đạt được những kết quả quan trọng.
Các hoạt động đa phương được đẩy mạnh. Lần đầu tiên đảm nhận vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực và đã làm tốt cương vị Chủ tịch luân phiên Hội đồng Bảo an. Đã tham gia có trách nhiệm vào việc củng cố và tăng cường hợp tác trong ASEAN và ASEAN với các đối tác.
Công tác vận động nguồn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), thu hút đầu tư nước ngoài (FDI, FII) đem lại kết quả thiết thực; đã chủ động hơn trong đàm phán, ký kết các hiệp định về thiết lập khu vực mậu dịch tự do và hỗ trợ tích cực doanh nghiệp mở rộng thị trường.
Công tác ngoại giao văn hóa và tuyên truyền đối ngoại được đẩy mạnh góp phần quảng bá và nâng cao hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên thế giới.
Công tác người Việt Nam ở nước ngoài được coi trọng. Đã lập Quỹ bảo hộ công dân, miễn thị thực nhập cảnh, triển khai đề án dạy tiếng Việt, đang nghiên cứu mở rộng đối tượng được mua nhà trong nước và sửa đổi Luật Quốc tịch nhằm tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào ta định cư ở nước ngoài gắn bó với quê hương đất nước.
7. Chính trị xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm
Các lực lượng vũ trang nhân dân đã vượt qua nhiều khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Công tác phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội được tăng cường và có những kết quả tích cực. Số vụ tai nạn, số người chết và số người bị thương do tai nạn giao thông giảm nhiều so với năm 2007[17]. Việc giải quyết các khiếu kiện của nhân dân được chú trọng và đạt kết quả tốt hơn.
Đã thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, bảo đảm tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của nhân dân; xử lý kiên quyết, đúng pháp luật các hành vi gây mất trật tự an toàn xã hội.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và các cấp chính quyền đã phối hợp có hiệu quả trong việc vận động nhân dân đồng tâm, hiệp lực kiềm chế lạm phát, khắc phục khó khăn, phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng đời sống văn hoá, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong bối cảnh rất nhiều khó khăn thách thức, đạt được những chuyển biến tích cực nêu trên là nỗ lực rất lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị nước ta.
(Trích nội dung: Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2008 và nhiệm vụ năm 2009 (do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII, ngày 16 tháng 10 năm 2008))
______________________________________________________

[1] 8 nhóm giải pháp lớn: (1) Thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt và bảo đảm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng và nền kinh tế; (2) Kiểm soát chặt chẽ, cắt giảm đầu tư và nâng cao hiệu quả chi tiêu công; (3) Tập trung sức phát triển sản xuất và dịch vụ, bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hóa; (4) Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, giảm nhập siêu; (5) Triệt để thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng; (6) Tăng cường công tác quản lý thị trường, chống đầu cơ buôn lậu và gian lận thương mại; (7) Tăng cường các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội; (8) Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thông tin và tuyên truyền.
[2] Số liệu tương ứng của các năm trước là: năm 2003: 23,9% và 28,8%; năm 2004: 20,6% và 27,2%; năm 2005: 24,4% và 20,6%; năm 2006: 29,7% và 24,8%; năm 2007 là 43,7% và 53,9%.
[3] Gồm 1.968 công trình với gần 6.000 tỷ đồng vốn ngân sách nhà nước và 1.145 dự án với trên 31.000 tỷ đồng vốn đầu tư của 55 tập đoàn và tổng công ty nhà nước.
[4] Ước vượt 23,5% so với dự toán, tăng 26,3% so với thực hiện năm 2007.
[5] Ước mức bội chi NSNN năm 2008 là 4,95% GDP so với kế hoạch là 5%.
[6] Nhập siêu tháng 4: 3,2 tỷ USD; tháng 5: 1,9 tỷ USD; tháng 6: 728 triệu USD; tháng 7: 753 triệu USD; tháng 8: 258 triệu USD; tháng 9: 500 triệu USD.
[7] Tăng giá tiêu dùng tháng 1: 2,38%; tháng 2: 3,56%; tháng 3: 2,99%; tháng 4: 2,2%; tháng 5: 3,91%; tháng 6: 2,14%, tháng 7: 1,13%, tháng 8: 1,56%, tháng 9: 0,18%.
[8] Tăng trưởng kinh tế quý I là 7,38%; quý II là 5,85%, quý III là 6,55%. 9 tháng là 6,52%.
[9] Xấp xỉ đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 là 1.050 - 1.100 USD/người.
[10] Các năm khác tăng cao là: năm 1989 sau khi có Khoán 10, sản lượng lúa tăng 1,996 triệu tấn so với năm 1988; năm 1999 và năm 2002 đều có mức tăng khoảng 2,3 triệu tấn.
[11] Trong 9 tháng đầu năm 2008, có trên 49.300 doanh nghiệp thành lập với số vốn đăng ký khoảng 377.100 tỷ đồng, tăng 27,4% về số lượng và 28% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2007.
[12] Trong 9 tháng, số vốn đăng ký hơn 57 tỷ USD, gấp gần 5 lần so với cùng kỳ năm 2007, vốn thực hiện trên 8 tỷ USD, tăng 37% so với cùng kỳ.
[13] Vốn ODA cam kết năm 2006 là 3,75 tỷ USD; năm 2007 là 4,45 tỷ USD; năm 2008 là 5,426 tỷ USD.
[14] Bao gồm hỗ trợ về đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu, vay vốn; hỗ trợ về y tế, giáo dục, việc làm, trợ giúp pháp lý, sắp xếp ổn định dân cư, giao khoán bảo vệ rừng gắn với cung cấp lương thực; hỗ trợ tiền dầu thắp sáng cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách và hộ nghèo chưa được sử dụng điện; hỗ trợ khai thác thuỷ sản; hỗ trợ về khắc phục hậu quả thiên tai; phòng chống dịch bệnh; điều chỉnh lương; trợ cấp khó khăn cho người lương thấp; hỗ trợ miễn giảm thuỷ lợi phí và một số loại phí, lệ phí; các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội đối với vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, Trung du và miền núi Bắc Bộ; Chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2.
[15] Trong đó có 2 Chương trình cho vay uỷ thác của các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế.
[16] Hết năm 2008, 100% xã, phường, 84,5% thôn bản có cán bộ y tế; 98,2% xã có trạm y tế, 70% xã có bác sỹ; trên 46% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã; trên 70% xã thực hiện khám, chữa bệnh ban đầu cho người có thẻ bảo hiểm.
[17] So với cùng kỳ năm 2007, 9 tháng năm 2008 xảy ra 9.463 vụ tai nạn giao thông, giảm 1.548 vụ (14%). Số người chết là 8.598, giảm 1.307 người (13,2%). Số người bị thương là 6.165, giảm 2.224 người (26,5%).
 
In bài
Các tin khác
Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2007
Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2006
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ngày 10 tháng 4 năm 2006 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010

Chính sách và thành tựu

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2016 và nhiệm vụ năm 2017 do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIV
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu 6 tháng cuối năm 2016 do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV
Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 và 5 năm 2011 - 2015; phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2016 - 2020 và năm 2016 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XIII, ngày 20 tháng 10 năm 2015
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2014 và nhiệm vụ năm 2015 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII, ngày 20/10/2014
Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2013, kết quả 3 năm thực hiện kế hoạch 5 năm (2011-2015) và nhiệm vụ 2014-2015
Báo cáo của Chính phủ về tình hình KT-XH năm 2012 và nhiệm vụ năm 2013
Báo cáo bổ sung kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2011, tình hình thực hiện nhiệm vụ 4 tháng đầu năm và những giải pháp chủ yếu tập trung chỉ đạo, điều hành trong những tháng còn lại của năm 2012
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2011, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và 5 năm 2011 - 2015 
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tình hình kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010
Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2010 và nhiệm vụ năm 2011
Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2009 và nhiệm vụ năm 2010
Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2008
Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2007
Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2006
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ngày 10 tháng 4 năm 2006 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010
Giai đoạn 1986-2003: Muời tám năm sự nghiệp đổi mới
Giai đoạn 1976-1985: Đất nước thống nhất, Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN
Giai đoạn 1955-1975: Xây dựng CNXH và Đấu tranh thống nhất đất nước
Giai đoạn 1945-1954: Kháng chiến và Kiến quốc
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Quyền Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.