Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2014

Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2014
27/08/2014 15:17:00


Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2014

__________  

 

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản                  

 Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa mùa và thu hoạch lúa hè thu. Tính đến thời điểm 15/8/2014, cả nước đã gieo cấy được 1446,5 nghìn ha lúa mùa, bằng 98,6% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đã kết thúc gieo cấy với diện tích đạt 1179,1 nghìn ha, bằng cùng kỳ năm trước; các địa phương phía Nam gieo cấy 267,4 nghìn ha, bằng 92,7%.

Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1116,7 nghìn ha lúa hè thu, bằng 94,9% cùng kỳ năm 2013, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 1051,7 nghìn ha, chiếm 62,3% diện tích gieo cấy và bằng 96,1%. Theo báo cáo sơ bộ, sản lượng lúa hè thu năm nay của cả nước ước tính đạt 11,3 triệu tấn, tăng hơn 90 nghìn tấn so với vụ hè thu năm trước, năng suất ước tính đạt 53,3 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha.

Gieo trồng các loại cây hoa màu nhìn chung bảo đảm tiến độ. Tính đến giữa tháng Tám, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 992,5 nghìn ha ngô, bằng 103,1% cùng kỳ năm 2013; 127,4 nghìn ha khoai lang, bằng 102,5%; 96,1 nghìn ha đậu tương, bằng 87,8%; 186,1 nghìn ha lạc, bằng 94,9%; 894,7 nghìn ha rau, đậu, bằng 108,7%.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong tháng nhìn chung ổn định. Tổng đàn trâu cả nước ước tính giảm 1% so với cùng kỳ năm 2013; đàn bò tăng từ 0,5% - 1%. Chăn nuôi lợn có xu hướng thuận lợi, giá bán lợn hơi tăng, dịch lợn tai xanh được khống chế tạo tâm lý tốt cho người nuôi, ước tính tổng đàn lợn cả nước tăng từ 1% - 1,5% so với cùng kỳ năm 2013. Tổng đàn gia cầm cả nước trong tháng ước tính tăng khoảng 1% - 2% so với cùng kỳ  năm trước.

Tính đến thời điểm 20/8/2014 cả nước không còn địa phương nào có dịch cúm gia cầm và dịch lợn tai xanh chưa qua 21 ngày. Dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở tỉnh Nghệ An.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 8 năm 2014

Lâm nghiệp

Trong tháng Tám, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 15,4 nghìn ha, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 8 triệu cây, giảm 2,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 622 nghìn m3, tăng 6,1%. Tính chung 8 tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 120,6 nghìn ha, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2013; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 134,5 triệu cây, giảm 1,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3656 nghìn m3, tăng 7,8%.

Do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài, nhất là ở các tỉnh miền Trung nên xảy ra cháy rừng tại một số địa phương. Trong tháng Tám có 448 ha rừng bị thiệt hại, trong đó chủ yếu là diện tích rừng bị cháy với 440 ha. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy: Bình Định 251 ha; Phú Yên 99 ha; Quảng Trị 42 ha; Thanh Hóa 23 ha. Tính chung 8 tháng, cả nước có 3014 ha rừng bị thiệt hại, tăng 113% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 2504 ha, tăng 188,3%; diện tích rừng bị chặt, phá là 510 ha, giảm 6,7%.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Tám ước tính đạt 544,2 nghìn tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá 368,4 nghìn tấn, tăng 0,6%; tôm đạt 77,9 nghìn tấn, tăng 8,5%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng Tám ước tính đạt 300,3 nghìn tấn, tăng 1,09% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó cá 205,4 nghìn tấn, giảm 1%; tôm 60,2 nghìn tấn, tăng 10%. Nuôi tôm tại các địa phương tiếp tục theo xu hướng chuyển dịch từ tôm sú sang tôm thẻ chân trắng. Nuôi cá tra vẫn trong tình trạng khó khăn do giá cá tra không ổn định và có xu hướng giảm. Một số tỉnh có sản lượng cá tra giảm mạnh: An Giang đạt 21,1 nghìn tấn, giảm 7,0%; Cần Thơ 17,1 nghìn tấn, giảm 6,0%; Bến Tre 10,2 nghìn tấn, giảm 22,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng Tám ước tính đạt 243,9 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 223,8 nghìn tấn, tăng 3,1%. Tính chung 8 tháng, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 4006,6 nghìn tấn, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 2118,3 nghìn tấn, tăng 3,1%; sản lượng khai thác đạt 1888,3 nghìn tấn, tăng 4,9%.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tám ước tính tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 0,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,0%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm nay ước tính tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2013. Trong mức tăng chung 8 tháng của toàn ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 8,1%, đóng góp 5,6 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 6,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai thác tiếp tục giảm ở mức 0,8%, làm giảm 0,2 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành sản xuất, một số ngành có chỉ số sản xuất 8 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 34,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 20,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 20,2%; dệt tăng 17,0%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 13,8%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 13,1%; sản xuất trang phục tăng 11,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất kim loại tăng 9,4%; sản xuất đồ uống tăng 8,1%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5,0%; sản xuất thiết bị điện tăng 3,9%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 3,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 2,9%; khai thác than cứng và than non giảm 0,3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 1,0%; sản xuất thuốc lá giảm 11,1%...

Trong các sản phẩm sản xuất, một số sản phẩm đạt mức tăng 8 tháng cao so với cùng kỳ năm 2013: Điện thoại di động tăng 40,4%; ô tô tăng 27,9%; thép cán tăng 22,8%; tivi tăng 20,1%; giày dép da tăng 17,6%; sữa tươi tăng 16,9%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 15,6%. Một số sản phẩm tăng khá: Điện tăng 11,7%; thủy sản chế biến tăng 10,7%; bột giặt và các chế phẩm dùng cho tẩy, rửa tăng 10,4%... Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: Xe máy giảm 11,7%; thuốc lá điếu giảm 11,2%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 7,7%; sữa bột giảm 3,8%; than đá giảm 3,0%; bột ngọt giảm 1,5%; dầu thô giảm 0,8% (đạt 10,1 triệu tấn, xấp xỉ 70% kế hoạch năm của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam); phân hỗn hợp (N,P,K) giảm 0,6%; sắt, thép thô giảm 0,1%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 11,5%; Đà Nẵng tăng 10,9%; Hải Dương tăng 9,7%; Bình Dương tăng 8,1%; Cần Thơ tăng 7,7%; Đồng Nai tăng 7,7%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,5%; Quảng Nam tăng 5,1%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 4,9%; Hà Nội tăng 4,5%; Quảng Ninh tăng 3,8%; Vĩnh Phúc giảm 3,6%; Bắc Ninh giảm 4,4%; Quảng Ngãi giảm mạnh ở mức 19,0%, chủ yếu do Nhà máy lọc dầu Dung Quất tập trung bảo dưỡng định kỳ.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Bảy năm nay tăng 2,7% so với tháng trước tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng, chỉ số tiêu thụ ngành này tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2013. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 7 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2013: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 33,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 22,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 17%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,9%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 7 tháng tăng thấp: Sản xuất trang phục tăng 7,1%; sản xuất đồ uống tăng 6,4%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 6,0%; dệt tăng 5,2%; sản xuất kim loại tăng 4,8%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 4,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 3,8%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 3,6%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/8/2014, tăng 13,4% so với cùng thời điểm năm 2013. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất đồ uống tăng 13,3%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,4%; dệt tăng 3,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 1,9%; sản xuất thiết bị điện giảm 1,9%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 4,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 12,8%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 54,1%; sản xuất trang phục tăng 46,1%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 42,6%; sản xuất kim loại tăng 36,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 33,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 30,4%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 7 tháng là 77,3%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 158,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 125,0%; sản xuất, chế biến thực phẩm 99,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 87,2%; sản xuất kim loại 89,2%.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8/2014 tăng 4,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,5%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 5,6%. Tại thời điểm trên, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp khai khoáng giảm 4,1% so với cùng thời điểm năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,7%; sản xuất, phân phối điện tăng 2,3%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 4%.

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn tại thời điểm 01/8/2014 so với cùng thời điểm năm trước như sau: Vĩnh Phúc tăng 7,0%; Bắc Ninh tăng 6,3%; Quảng Nam tăng 4,9%; Đồng Nai tăng 4,9%; Bình Dương tăng 3,6%; Cần Thơ tăng 3,4%; Hải Phòng tăng 3,3%; Quảng Ninh tăng 2,7%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 2,5%; Đà Nẵng tăng 2,4%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,0%; Quảng Ngãi giảm 1,6%; Hải Dương giảm 1,7%.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Chỉ số sản xuất công nghiệp

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp

 

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Trong tháng 8, số doanh nghiệp thành lập mới của cả nước là 5052 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 27,3 nghìn tỷ đồng, giảm 0,6% về số doanh nghiệp và giảm 13,2% về số vốn đăng ký so với tháng trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là 5,4 tỷ đồng, giảm 13% so với tháng trước. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Tám theo đăng ký là 79,4 nghìn lao động, giảm 9,8% so với tháng trước. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký của cả nước là 6681 doanh nghiệp, tăng 35,5% so với tháng trước, bao gồm: 755 doanh nghiệp giải thể; 1050 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 4876 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Mặc dù số doanh nghiệp và số vốn đăng ký mới giảm so với tháng trước nhưng bức tranh chung về tình hình doanh nghiệp trong tháng cho thấy dấu hiệu tích cực khi số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trên cả nước là 1496 doanh nghiệp, tăng 35,2% so với tháng trước.

Tính chung 8 tháng, cả nước có 47,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 289,8 nghìn tỷ đồng, giảm 9,5% về số doanh nghiệp và tăng 14,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là 6,1 tỷ đồng, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm 2013. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong 8 tháng là 708,5 nghìn lao động, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký trong 8 tháng của cả nước là 44,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: 6,4 nghìn doanh nghiệp giải thể; 7,6 nghìn doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 30,5 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Tổng vốn đăng ký của các doanh nghiệp gặp khó khăn là 339,2 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Vốn đăng ký của các doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể là 49,3 nghìn tỷ đồng; vốn đăng ký của các doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc ngừng hoạt động mà không đăng ký là 289,9 nghìn tỷ đồng (Số vốn đăng ký của các doanh nghiệp thực sự khó khăn nhưng chưa hoàn thành thủ tục giải thể). Đồng thời, trong 8 tháng, tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm là 658,5 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Vốn đăng ký của các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 289,8 nghìn tỷ đồng; vốn đăng ký bổ sung của các doanh nghiệp là 368,7 nghìn tỷ đồng. Trong 8 tháng, cả nước có 10,9 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2013.

Về tình hình đăng ký doanh nghiệp theo ngành hoạt động trong 8 tháng, một số ngành có tín hiệu tích cực thể hiện qua số doanh nghiệp thành lập mới tăng và số doanh nghiệp gặp khó khăn giảm: Ngành sản xuất phân phối, điện, nước, gas tăng 12,4% về số doanh nghiệp thành lập mới và giảm 27,9% về số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động; hoạt động dịch vụ khác tăng 3,6% và giảm 15,9%. Một số ngành thể hiện sự tái cơ cấu mạnh qua số liệu doanh nghiệp giải thể, rút khỏi thị trường: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 46,5% về số doanh nghiệp thành lập mới và tăng 26,2% về số doanh nghiệp dừng hoạt động; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 23,9% và tăng 6,3%; kinh doanh bất động sản tăng 21,5% và tăng 11,2%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 18,8% và tăng 30,9%; thông tin và truyền thông tăng 7,9% và tăng 30,9%. Một số ngành vẫn gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy giảm 18,4% về số doanh nghiệp thành lập mới và tăng 15,8% về số doanh nghiệp dừng hoạt động; dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác giảm 13,7% và tăng 5,4%; xây dựng giảm 12,1% và tăng 12,9%.

Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Tám ước tính đạt 19610 tỷ đồng, bằng 10,6% kế hoạch năm và tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn trung ương 4314 tỷ đồng, bằng 10,9% và tăng 2,6%; vốn địa phương 15296 tỷ đồng, bằng 10,5% và tăng 3,2%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 8 tháng năm nay đạt 129046 tỷ đồng, bằng 69,7% kế hoạch năm và tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm:

- Vốn trung ương quản lý đạt 29231 tỷ đồng, bằng 74,0% kế hoạch năm và tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông vận tải là 4181 tỷ đồng, bằng 92,3% và giảm 8,2%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2327 tỷ đồng, bằng 67,0% và giảm 5,2%; Bộ Xây dựng 1372 tỷ đồng, bằng 67,4% và tăng 4,6%; Bộ Y tế 602 tỷ đồng, bằng 74,8% và tăng 5,8%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 461 tỷ đồng, bằng 62,5% và tăng 5,5%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 385 tỷ đồng, bằng 61,6% và tăng 0,8%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 322 tỷ đồng, bằng 71,0% và tăng 1,1%; Bộ Công Thương 221 tỷ đồng, bằng 74,9% và tăng 8,3%; Bộ Khoa học và Công nghệ 184 tỷ đồng, bằng 65,6% và giảm 5,6%; Bộ Thông tin và Truyền thông 163 tỷ đồng, bằng 78,5% và giảm 4,1%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 99815 tỷ đồng, bằng 68,5% kế hoạch năm và tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 68756 tỷ đồng, bằng 66,0% và tăng 1,7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 25074 tỷ đồng, bằng 73,3% và tăng 3,7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 5985 tỷ đồng, bằng 81,1% và giảm 1,0%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 14683 tỷ đồng, bằng 62,7% kế hoạch năm và giảm 0,9% so với cùng kỳ năm trước; Thành phố Hồ Chí Minh 10084 tỷ đồng, bằng 69,5% và tăng 0,5%; Đà Nẵng 3094 tỷ đồng, bằng 72,0% và tăng 1,2%; Nghệ An 2558 tỷ đồng, bằng 106,4% và tăng 8,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu 2495 tỷ đồng, bằng 55,5% và tăng 14,1%; Thanh Hóa 2422 tỷ đồng, bằng 80,4% và tăng 3,5%; Vĩnh Phúc 2406 tỷ đồng, bằng 67,8% và giảm 8,4%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/8/2014 thu hút 992 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 7246,2 triệu USD, tăng 29,0% về số dự án và giảm 2,1% về số vốn so với cùng kỳ năm 2013. Đồng thời có 349 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 2985,9 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 10232,1 triệu USD, giảm 19,0% so với cùng kỳ năm 2013. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 8 tháng năm nay ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 8 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt 7000,8 triệu USD, chiếm 68,4% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1154,3 triệu USD, chiếm 11,3%; ngành xây dựng đạt 552,9 triệu USD, chiếm 5,4%; các ngành còn lại đạt 1524,1 triệu USD, chiếm 14,9%.

Cả nước có 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 8 tháng, trong đó Bắc Ninh tiếp tục dẫn đầu với số vốn đăng ký đạt 1263,0 triệu USD, chiếm 17,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Thành phố Hồ Chí Minh 993 triệu USD, chiếm 13,7%; Quảng Ninh 576,2 triệu USD, chiếm 8,0%; Hải Phòng 509,4 triệu USD, chiếm 7,0%; Bình Dương 426,5 triệu USD, chiếm 5,9%; Đồng Nai 373,7 triệu USD, chiếm 5,2%; Hải Dương 336,2 triệu USD, chiếm 4,6%...

Trong số 49 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam trong 8 tháng, Hàn Quốc vẫn là nhà đầu tư lớn nhất với 2467,8 triệu USD, chiếm 34,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) với 1047,1 triệu USD, chiếm 14,5%; Nhật Bản 769,9 triệu USD, chiếm 10,6%; Xin-ga-po 594,2 triệu USD, chiếm 8,2%; Đài Loan 410,0 triệu USD, chiếm 5,7%; In-đô-nê-xia 353,2 triệu USD, chiếm 4,9%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 295,2 triệu USD, chiếm 4,1%...

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/8/2014

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/8/2014 ước tính đạt 538,8 nghìn tỷ đồng, bằng 68,8% dự toán năm, trong đó thu nội địa 366,7 nghìn tỷ đồng, bằng 68%; thu từ dầu thô 64 nghìn tỷ đồng, bằng 75,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 103,7 nghìn tỷ đồng, bằng 67,3%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 124,8 nghìn tỷ đồng, bằng 67,6% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 78,6 nghìn tỷ đồng, bằng 70,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 69,5 nghìn tỷ đồng, bằng 64,8%; thuế thu nhập cá nhân 30,6 nghìn tỷ đồng, bằng 64,5%; thuế bảo vệ môi trường 6,9 nghìn tỷ đồng, bằng 54,7%; thu phí, lệ phí 6,3 nghìn tỷ đồng, bằng 61,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/8/2014 ước tính đạt 627,9 nghìn tỷ đồng, bằng 62,4% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 104,9 nghìn tỷ đồng, bằng 64,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 101,7 nghìn tỷ đồng, bằng 64,3%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể ước tính đạt 445,4 nghìn tỷ đồng, bằng 63,3%; chi trả nợ và viện trợ 77,6 nghìn tỷ đồng, bằng 64,6%.

Thương mại, giá cả và du lịch

Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tám đạt 242,3 nghìn tỷ đồng, tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 184,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm ngành hàng hóa bán lẻ, hàng vật phẩm, văn hóa, giáo dục ước tính đạt 2,9 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5% so với tháng trước và là nhóm hàng có tốc độ tăng cao nhất; hàng may mặc đạt 9,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,1%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy đạt 3,7 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) đạt 4,3 nghìn tỷ đồng, tăng 1,4%; lương thực, thực phẩm đạt 47,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3%; phương tiện đi lại, phụ tùng (trừ xe ô tô) đạt 13,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1%; xăng, dầu đạt 24,3 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1%. 

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Tám giảm 4,2% so với tháng trước và tăng 7% so với cùng kỳ năm 2013; dịch vụ lữ hành giảm 7,7% và tăng 8,2%. Hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống giảm so với tháng trước và cùng bằng 99,4%. Doanh thu du lịch lữ hành tháng Tám so với tháng trước của Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh ven biển như sau: Hà Nội tăng 1,6%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 11,3%; Hà Tĩnh tăng 2,8%; Phú Yên tăng 2,3%; Quảng Ninh tăng 1,8%; Đà Nẵng tăng 0,6%; Hải Phòng tăng 0,2%.

Tính chung 8 tháng năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 1900,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2013, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,4%, cao hơn mức tăng 5,3% của cùng kỳ năm 2013. Thị trường giá cả ổn định là một trong những nguyên nhân làm cho hàng hóa tiêu dùng tăng khá hơn. Mặt khác, lượng khách quốc tế đến Việt Nam 8 tháng năm nay tăng cao hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước cũng góp phần kích thích tăng cầu tiêu dùng.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng của khu vực kinh tế Nhà nước đạt 191,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng số và tăng 8,2%; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 1643,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 86,5%, tăng 11,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 64,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,4%, tăng 23,7%. Trong tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 1431 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,3% tổng số và tăng 10,7%; dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 229,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,1% tăng 11,8%; dịch vụ khác đạt 219,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% tăng 14,9%; du lịch lữ hành đạt 20 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% tăng 19,9%.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

 Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 7/2014 đạt 12,9 tỷ USD, tăng 516 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại các loại và linh kiện tăng 181 triệu USD; dầu thô tăng 152 triệu USD; hàng dệt may tăng 46 triệu USD; giày dép tăng 45 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 44 triệu USD; máy móc, thiết bị, phụ tùng tăng 35 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Tám ước tính đạt 13 tỷ USD, tăng 0,7% so với tháng trước, trong đó kim ngạch một số mặt hàng tăng ở mức cao: Gạo tăng 10,6%; than đá tăng 58,7%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 6,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Tám tăng 10,3%, trong đó khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 12%, một số mặt hàng đạt kim ngạch tăng cao: Giày dép tăng 27,8%; hàng dệt may tăng 20,9%; hóa chất tăng 53,5%.

Tính chung 8 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 97 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 31,8 tỷ USD, tăng 11,1% và chiếm 32,7% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 65,2 tỷ USD, tăng 15,6% và chiếm 67,3%. Trong 8 tháng, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực đạt mức tăng cao: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 13,7%; hàng dệt, may đạt 13,6 tỷ USD, tăng 19,7%; giày dép đạt 6,7 tỷ USD, tăng 23,1%; dầu thô 5,6 tỷ USD, tăng 14,3%; thủy sản đạt 5 tỷ USD, tăng 23,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 4,8 tỷ USD, tăng 23,1%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,9 tỷ USD, tăng 12,8%; cà phê đạt 2,5 tỷ USD, tăng 22,4%; túi xách, vali, mũ, ô dù đạt 1,7 tỷ USD, tăng 36,2%. Kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số mặt hàng nông sản, nguyên nhiên vật liệu giảm cả về lượng và giá trị: Điện tử máy tính và linh kiện đạt 6,5 tỷ USD, giảm 4,1%; gạo đạt 4,5 triệu tấn tương đương 2 tỷ USD, giảm 7% về lượng và giảm 3,7% về giá trị; sắn và sản phẩm của sắn đạt 2,3 triệu tấn, tương đương 739 triệu USD, giảm 1,4% và giảm 2,7%; cao su đạt 550 nghìn tấn, tương đương 992 triệu USD, giảm 9,5% và giảm 31,7%; than đá đạt 5,1 triệu tấn, tương đương 377 triệu USD, giảm 37,8% và giảm 36,2%; xăng dầu đạt 727 nghìn tấn, tương đương 692 triệu USD, giảm 17,5% và giảm 15,4%.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 8 tháng, Hòa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 18,5 tỷ USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm 2013; tiếp đến là EU với 17,9 tỷ USD, tăng 13,3%; ASEAN đạt 12,4 tỷ USD, tăng 0,5%; Trung Quốc đạt 9,8 tỷ USD, tăng 15,2%, cao hơn nhiều so với mức tăng 1,6% của cùng kỳ năm 2013; Nhật Bản đạt 9,9 tỷ USD, tăng 12,7%; Hàn Quốc đạt 4,3 tỷ USD, tăng 3,1%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 7/2014 đạt gần 13 tỷ USD, tăng 315 triệu USD so với số ước tính, trong đó xăng dầu tăng 180 triệu USD; sắt, thép tăng 169 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Tám ước tính đạt 12,9 tỷ USD, giảm 0,5% so với tháng trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,2 tỷ USD, giảm 0,5%, khu vực kinh tế trong nước đạt 5,7 tỷ USD, giảm 0,5%. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Tám tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,2%, khu vực kinh tế trong nước tăng 15,7%.

Tính chung 8 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 95,3 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 41,9 tỷ USD, tăng 13,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 53,4 tỷ USD, tăng 10,9%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 8 tháng năm nay tăng có sự đóng góp của một số mặt hàng máy móc thiết bị và nguyên, phụ liệu phục vụ sản xuất: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 14,6 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2013; vải đạt 6,2 tỷ USD, tăng 16,1%; xăng dầu đạt 5,9 tỷ USD, tăng 26,7%; chất dẻo đạt 4,1 tỷ USD, tăng 13%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 3,1 tỷ USD, tăng 26,2%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 2,2 tỷ USD, tăng 8,5%; kim loại thường khác đạt 2,2 tỷ USD, tăng 18,8%; sản phẩm hóa chất đạt 2,1 tỷ USD, tăng 17,2%; sản phẩm chất dẻo đạt 2 tỷ USD, tăng 23,2%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,6 tỷ USD, tăng 70,5%; bông đạt 988 triệu USD, tăng 28,3%.

Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu 8 tháng giảm so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 11,2 tỷ USD, giảm 2,8%; điện thoại các loại và linh kiện đạt 5,1 tỷ USD, giảm 0,7%; phân bón đạt 792 triệu USD, giảm 29,9%; phương tiện vận tải khác và phụ tùng đạt 500 triệu USD, giảm 54,3%; cao su đạt 417 triệu USD, giảm 7,9%; xe máy và linh kiện, phụ tùng đạt 249 triệu USD, giảm 20,5%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 8 tháng năm nay, Trung Quốc tuy vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất vào Việt Nam với kim ngạch đạt 27,6 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2013, nhưng thấp hơn mức tăng 27% của cùng kỳ năm trước. Do đó nhập siêu từ Trung Quốc 8 tháng ước tính đạt 17,8 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2013 và thấp hơn mức tăng 50% của cùng kỳ năm 2013. Tiếp đến là ASEAN với 15,2 tỷ USD, tăng 8,4%; Hàn Quốc đạt 14 tỷ USD, tăng 5,7%; Nhật Bản đạt 8,1 tỷ USD, tăng 8%; EU đạt 5,8 tỷ USD, giảm 9,1%; Hoa Kỳ 4,2 tỷ USD, tăng 19,9%.

Mức nhập siêu tháng Bảy là 49 triệu USD, thấp hơn 250 triệu USD so với số ước tính. Tháng Tám xuất siêu ước tính 100 triệu USD. Xuất siêu 8 tháng là 1,7 tỷ USD, bằng 1,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 11,86 tỷ USD; khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 10,16 tỷ USD.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Hàng hóa xuất khẩu

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Hàng hóa nhập khẩu

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2014 tăng 0,22% so với tháng trước. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng nhiều nhất với 0,45% (Lương thực tăng 0,45%; thực phẩm tăng 0,54%), chủ yếu do hoạt động thu mua gạo thực hiện hợp đồng mới xuất khẩu sang thị trường Phi-li-pin và Ma-lai-xi-a làm giá lương thực tăng và nhu cầu tiêu dùng ngày Rằm tháng Bảy làm giá thực phẩm tăng. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng nhẹ: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,32%; nhóm giáo dục, nhóm thuốc và dịch vụ y tế cùng tăng 0,22% (Dịch vụ y tế tăng 0,24% do giá dịch vụ y tế tại tỉnh Phú Yên tăng 15,06% theo Nghị quyết số 109/2014/NQ-HĐND); đồ uống và thuốc lá tăng 0,13%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,06%.

Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,31% (Giá gas giảm 1,41%; giá điện giảm 0,73%); nhóm giao thông giảm 0,06% do giá xăng dầu giảm 0,16% từ ba đợt điều chỉnh giảm giá; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2014 tăng 1,84% so với tháng 12/2013 và tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm nay tăng 4,73% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 6,9% của cùng kỳ năm 2013, thể hiện sự bình ổn giá cả hàng hóa trên thị trường.

Chỉ số giá vàng tháng 8/2014 giảm 0,34% so với tháng trước và giảm 3,06% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 8 tháng năm nay, chỉ số giá vàng giảm 14,16% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2014 giảm 0,26% so với tháng trước và giảm 0,07% so với cùng kỳ năm trước. Tính bình quân 8 tháng, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,57% so với cùng kỳ năm 2013.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 8 năm 2014

Vận tải hành khách và hàng hóa 

Vận tải hành khách 8 tháng ước tính đạt 2019,3 triệu lượt khách, tăng 6,9% và 91,7 tỷ lượt khách.km, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Vận tải trung ương đạt 22,9 triệu lượt khách, tăng 4,6% và 23 tỷ lượt khách.km, tăng 5,4%; vận tải địa phương đạt 1996,4 triệu lượt khách, tăng 7% và 68,8 tỷ lượt khách.km, tăng 7,3%. Vận tải hành khách đường bộ 8 tháng ước tính đạt 1894,2 triệu lượt khách, tăng 7,1% và 67 tỷ lượt khách.km, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 12,5 triệu lượt khách, tăng 8,8% và 19,1 tỷ lượt khách.km, tăng 6,3%; đường sắt đạt 8,4 triệu lượt khách, giảm 1,3% và 3,1 tỷ lượt khách.km, tăng 1%; đường biển đạt 3,6 triệu lượt khách, tăng 4,2% và 165,1 triệu lượt khách.km, tăng 2,6%.

Vận tải hàng hóa 8 tháng ước tính đạt 692,2 triệu tấn, tăng 4,7% và 144,8 tỷ tấn.km, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 672,6 triệu tấn, tăng 5% và 68,1 tỷ tấn.km, tăng 3,2%; vận tải ngoài nước đạt 19,5 triệu tấn, giảm 4,4% và 76,7 tỷ tấn.km, tăng 0,3%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 529 triệu tấn, tăng 6,1% và 30,3 tỷ tấn.km, tăng 4,2%; đường sông đạt 121,9 triệu tấn, tăng 2,4% và 25,8 tỷ tấn.km, tăng 2,8%; đường biển đạt 36,5 triệu tấn, giảm 6,6% và 85,5 tỷ tấn.km, tăng 0,2%; đường sắt đạt 4,7 triệu tấn, tăng 8,5% và 2,8 tỷ tấn.km, tăng 10,4%.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Vận tải hành khách và hàng hoá

Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta 8 tháng năm nay ước tính  đạt 5471,2 nghìn lượt người, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng 7,9% của cùng kỳ năm 2013, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 3302,6 nghìn lượt người, tăng 10,5%; đến vì công việc 919,8 nghìn lượt người, tăng 12,9%; đến thăm thân nhân đạt 941,5 nghìn lượt người tăng 15,8%.

Trong 8 tháng, hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ đều có lượng khách đến nước ta tăng so với cùng kỳ năm trước: Trung Quốc 1393,5 nghìn lượt người, tăng 17,2% (Cùng kỳ năm trước tăng 33,1%); Hàn Quốc 549,5 nghìn lượt người, tăng 9%; Nhật Bản 425,4 nghìn lượt người, tăng 8,2%; Hoa Kỳ 317,2 nghìn lượt người, tăng 6,1%; Đài Loan 277 nghìn lượt người, tăng 4,6%; Cam-pu-chia 258,4 nghìn lượt người, tăng 20,1%; Liên bang Nga 240,6 nghìn lượt người, tăng 27,1%; Ôx-trây-li-a 223,1 nghìn lượt người, tăng 4,2%; Ma-lai-xi-a 218,3 nghìn lượt người, tăng 2,8%; Thái Lan 182,3 nghìn lượt người, tăng 4,4%; Pháp 153,5 nghìn lượt người, tăng 4,9%, Anh 144,8 nghìn lượt người, tăng 17,2%; Xin-ga-po 126,1 nghìn lượt người, tăng 4,8%; Lào 101,8 nghìn lượt người, tăng 21,5%.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Khách quốc tế đến Việt Nam

Một số tình hình xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Tám, cả nước có 12,3 nghìn hộ thiếu đói, tăng 28,1% so với tháng trước, tương ứng với 52 nghìn nhân khẩu thiếu đói, tăng 26,8%. So với cùng kỳ năm 2013, số hộ thiếu đói giảm 34,9%; số nhân khẩu thiếu đói giảm 36,5%. Tính chung 8 tháng, cả nước có 293,1 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 21,1% so với cùng kỳ năm 2013, tương ứng với 1245 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 20,1%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành và tổ chức từ trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 20,6 nghìn tấn lương thực và 19,7 tỷ đồng, riêng tháng Tám hỗ trợ 924 tấn lương thực. 

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Tám, cả nước có gần 7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 2,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 820 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó 74 trường hợp dương tính với sởi; 212 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (20 trường hợp tử vong); 18 trường hợp mắc bệnh thương hàn và 04 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu. Tính chung 8 tháng năm nay, cả nước có 45,2 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (3 trường hợp tử vong); 15,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (10 trường hợp tử vong); 34,4 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó 5,8 nghìn trường hợp xác định mắc sởi (147 trường hợp tử vong); 667 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (27 trường hợp tử vong); 192 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 22 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (3 trường hợp tử vong); 3 trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân (1 trường hợp tử vong) và 2 trường hợp mắc và tử vong do bệnh cúm A (H5N1).

Trong tháng đã phát hiện thêm 1,4 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV hiện còn sống của cả nước tính đến thời điểm 17/08/2014 là 219,9 nghìn người, trong đó 69,6 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 72,5 nghìn người.

Cũng trong tháng, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 11 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng làm 307 người bị ngộ độc, trong đó 01 trường hợp tử vong. Tính chung 8 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 87 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 2,9 nghìn người bị ngộ độc, trong đó 19 trường hợp tử vong.

Tai nạn giao thông

Trong tháng Tám (từ 16/7 đến 15/8), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1971 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 815 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1156 vụ va chạm giao thông, làm 693 người chết; 580 người bị thương và 1424 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 14,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 7,2%; số vụ va chạm giao thông giảm 18,5%); số người chết giảm 0,3%; số người bị thương tăng 25,3% và số người bị thương nhẹ giảm 18,3%.

Tính chung 8 tháng năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 16707 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 6954 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 9753 vụ va chạm giao thông, làm 6062 người chết; 3868 người bị thương và 11894 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 14,3 (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 4,7%; số vụ va chạm giao thông giảm 20%); số người chết giảm 4,2%; số người bị thương giảm 12,3% và số người bị thương nhẹ giảm 20,4%. Bình quân 01 ngày trong 8 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 69 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 29 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 40 vụ va chạm giao thông, làm 25 người chết, 16 người bị thương và 49 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại do thiên tai

Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, thiên tai xảy ra trong tháng đã làm 14 người chết và mất tích; 13 người bị thương; hơn 600 ngôi nhà bị sập đổ, ngập nước và hư hỏng; 2,9 nghìn ha lúa và 1,7 ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Các địa phương bị thiệt hại nhiều do thiên tai: Lai Châu có 7 người chết và mất tích; 260 ngôi nhà bị sạt lở, ngập nước; Đắk Lắk có 2,2 nghìn ha lúa và 1,6 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính khoảng 40,5 tỷ đồng.

Tính chung 8 tháng năm nay, thiên tai đã làm 104 người chết và mất tích; 133 người bị thương; gần 1,4 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; 37,5 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, ngập nước; 31 nghìn ha lúa và 28 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra từ đầu năm ước tính khoảng 1,6 nghìn tỷ đồng.

Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng Tám, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 161 vụ cháy, nổ nghiêm trọng, làm 4 người chết và 3 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 129 tỷ đồng. Tính từ đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1747 vụ cháy nổ nghiêm trọng, làm 77 người chết và 118 người bị thương. Thiệt hại do cháy, nổ gây ra trong 8 tháng ước tính 512 tỷ đồng.

Trong tháng, cơ quan chức năng đã phát hiện 626 vụ vi phạm về bảo vệ môi trường, trong đó 463 vụ bị xử lý với tổng số tiền phạt là 14,2 tỷ đồng. Trong 8 tháng, trên địa bàn cả nước đã phát hiện 4,6 nghìn vụ vi phạm về bảo vệ môi trường, trong đó 2,9 nghìn vụ bị xử lý với tổng số tiền phạt hơn 481 tỷ đồng.

 Nguồn: TỔNG CỤC THỐNG KÊ

In bài
Các tin khác
Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2014
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Phó Tổng Giám đốc phụ trách: Lê Việt Đông
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.