Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2014

Tình hình kinh tế-xã hội 10 tháng năm 2014
28/10/2014 16:03:00


Tình hình kinh tế-xã hội 10 tháng năm 2014

_____________________

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào thu hoạch lúa mùa tại các địa phương phía Bắc; gieo cấy lúa mùa tại các địa phương phía Nam và thu hoạch lúa hè thu trên cả nước. Tính đến trung tuần tháng Mười, các địa phương phía Bắc đã thu hoạch được 866,4 nghìn ha lúa mùa, chiếm 73% diện tích gieo cấy và bằng 102,3% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng thu hoạch được 434,5 nghìn ha, chiếm 76,9% diện tích gieo cấy. Một số địa phương thu hoạch trên 90% diện tích gieo cấy: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Giang, Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hóa. Các tỉnh phía Nam gieo cấy được 784,1 nghìn ha lúa mùa, bằng 97,4% cùng kỳ năm 2013, chủ yếu do một số địa phương chuyển đổi cơ cấu diện tích trồng lúa sang các loại cây trồng khác nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Cùng với việc gieo cấy và thu hoạch lúa mùa, đến giữa tháng Mười, cả nước đã thu hoạch được 2109,5 nghìn ha lúa hè thu, đạt 100% diện tích gieo cấy và bằng 98,3% cùng kỳ năm trước. Do điều kiện thời tiết thuận lợi, cùng với sự chỉ đạo thường xuyên và hỗ trợ kịp thời về giống cây trồng và tiêu thụ sản phẩm của các ngành chức năng nên kết quả sản xuất vụ hè thu năm nay đạt khá. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa hè thu cả nước ước tính đạt 53,3 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy mặc dù diện tích gieo trồng giảm 13,2 nghìn ha do thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng nhưng sản lượng vẫn đạt 11,2 triệu tấn, tăng 142,5 nghìn tấn.

Gieo trồng một số cây vụ đông năm nay chậm hơn so với cùng kỳ năm trước và có xu hướng giảm do giá cả sản phẩm bấp bênh và gặp nhiều rủi ro về thời tiết nên hiệu quả kinh tế không cao. Tính đến trung tuần tháng Mười, cả nước gieo trồng được 100,3 nghìn ha ngô, bằng 97,8% cùng kỳ năm 2013; 18,6 nghìn ha khoai lang, bằng 88,2%; 27,6 nghìn ha đậu tương, bằng 86,3%; 85,3 nghìn ha rau đậu, bằng 99,3%.

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng nhìn chung ổn định. Ước tính đàn trâu giảm nhẹ; đàn bò đạt xấp xỉ cùng kỳ năm 2013. Chăn nuôi lợn có chiều hướng thuận lợi do dịch tai xanh trên lợn đã được khống chế, giá thịt lợn hơi đang ở mức cao, mang lại lợi nhuận cho người sản xuất. Ước tính đàn lợn tăng 2% so với cùng kỳ năm trước. Dịch cúm gia cầm được khống chế nên các hộ chăn nuôi gia cầm đang tập trung đầu tư tái đàn để chuẩn bị nguồn cung cho thị trường tiêu dùng những tháng cuối năm. Ước tính đàn gia cầm tăng 2% - 2,5% so với cùng kỳ năm 2013. Tính đến thời điểm 26/10/2014, cả nước không còn địa phương nào có dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng và dịch lợn tai xanh chưa qua 21 ngày.

Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước tính đạt 22 nghìn ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 7,7 triệu cây, tăng 10%; sản lượng gỗ khai thác đạt 588 nghìn m3, tăng 10,1%; sản lượng củi khai thác đạt 3 triệu ste, tăng 3,4%. Tính chung 10 tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước đạt 190 nghìn ha, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2013. Một số địa phương có diện tích rừng trồng nhiều: Nghệ An 13,8 nghìn ha; Tuyên Quang 13,7 nghìn ha; Quảng Ninh 12,8 nghìn ha. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 152,6 triệu cây, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 4527 nghìn m3, tăng 8,1%; sản lượng củi khai thác đạt 26,2 triệu ste, tăng 3,6%.

Do thời tiết còn nắng nóng nên đã xảy ra hiện tượng cháy rừng tại một số địa phương ở khu vực miền Trung. Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng khoảng 62 ha, gấp 3 lần cùng kỳ năm 2013, trong đó diện tích rừng bị cháy là 41 ha (Bình Định 25 ha; Hà Tĩnh 7 ha; Quảng Bình 3 ha); diện tích rừng bị chặt phá là 21 ha. Tính chung 10 tháng, diện tích rừng bị thiệt hại là 3775 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 3103 ha; diện tích rừng bị chặt phá là 672 ha.

Thuỷ sản

Sản lượng thủy sản tháng Mười ước tính đạt 526,8 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó cá đạt 380,4 nghìn tấn, tăng 1,4 %; tôm đạt 71 nghìn tấn, tăng 8,4%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 284,7 nghìn tấn, tăng 2,4%, trong đó cá đạt 208,6 nghìn tấn, tăng 0,2%; tôm đạt 54,3 nghìn tấn, tăng 9,9%. Sản lượng tôm nuôi trong tháng đạt khá do nuôi tôm tiếp tục phát triển theo hướng chuyển dịch từ nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng cho giá trị kinh tế cao hơn, mặt khác giá tôm nguyên liệu và sản phẩm đầu ra trên thị trường tương đối ổn định. Một số địa phương có sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng khá trong tháng: Kiên Giang 3 nghìn tấn, tăng 303,7% so với cùng kỳ năm 2013; Bạc Liêu 1,1 nghìn tấn, tăng 18,5%; Sóc Trăng 7 nghìn tấn, tăng 16,7%. Trong khi nuôi tôm có nhiều thuận lợi thì nuôi cá tra vẫn gặp khó khăn. Mặc dù các chính sách phát triển nuôi cá tra được triển khai tích cực tại các địa phương nhưng trên thực tế tác động của chính sách đối với người nuôi chưa thật hiệu quả. Giá nguyên liệu đầu vào như thức ăn, thuốc và con giống luôn tăng trong khi giá sản phẩm đầu ra bấp bênh, không ổn định. Sản lượng cá tra trong tháng của các địa phương trọng điểm tiếp tục giảm: Bến Tre 7,1 nghìn tấn, giảm 33% so với cùng kỳ năm trước; An Giang 20 nghìn tấn, giảm 9,7%; Cần Thơ 13,1 nghìn tấn, giảm 9,7%.

Được sự quan tâm của Nhà nước với các chính sách hỗ trợ vốn cho ngư dân đóng mới, cải hoán tàu thuyền và tăng tàu có công suất lớn đã khuyến khích ngư dân ra khơi, bám biển khai thác thủy sản. Sản lượng thủy sản khai thác tháng Mười ước tính đạt 242,1 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó khai thác biển đạt 220,4 nghìn tấn, tăng 3%.

Tính chung 10 tháng năm nay, tổng sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 5265,5 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó cá đạt 3820,9 nghìn tấn, tăng 3%; tôm đạt 638,1 nghìn tấn, tăng 14%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2779,8 nghìn tấn, tăng 4,8%, trong đó cá đạt 2007,7 nghìn tấn, tăng 1,8%; tôm đạt 503,7 nghìn tấn, tăng 17,1%. Sản lượng thủy sản khai khác đạt 2485,7 nghìn tấn, tăng 4,5 %, trong đó khai thác biển đạt 2325,3 nghìn tấn, tăng 4,8%.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười ước tính tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong các ngành công nghiệp, chỉ số sản xuất tháng Mười của ngành khai khoáng giảm 0,9% so với cùng kỳ năm 2013; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,8%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 8,2%.

Tính chung 10 tháng năm nay, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2013 (Quý I tăng 5,3%, quý II tăng 6,9%, quý III tăng 7,8%), cao hơn mức tăng 5,6% của cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng chung 10 tháng của toàn ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 8,4%, cao hơn mức tăng 7,0% của 10 tháng năm 2013, đóng góp 5,9 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 11,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng 8,6% của cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 6,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai thác tăng 0,7%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Trong các ngành sản xuất, một số ngành có chỉ số sản xuất 10 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 33,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 21,3%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 20,8%; dệt tăng 18,7%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 13,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 13,6%; khai khoáng khác tăng 13,5%; sản xuất trang phục tăng 11,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,5%; sản xuất kim loại tăng 10,5%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác và sản xuất đồ uống có cùng mức tăng 8,3%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,3%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,2%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 3,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 3,3%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 1,4%; khai thác than cứng và than non và khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên có cùng mức tăng 0,3%; sản xuất thuốc lá tiếp tục giảm ở mức 12,4%.

Trong các sản phẩm công nghiệp, một số sản phẩm đạt mức tăng cao trong 10 tháng: Điện thoại di động tăng 54,6% so với cùng kỳ năm trước; ô tô tăng 28,5%; sữa tươi tăng 21,6%; giày dép da tăng 18,3%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 15,5%; tivi tăng 15,2%. Một số sản phẩm tăng khá: Điện sản xuất tăng 12,0%; quần áo mặc thường tăng 10,2%; bột giặt và các chế phẩm dùng cho tẩy, rửa tăng 9,1%; thủy hải sản chế biến tăng 9,0%. Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: Bột ngọt giảm 0,3%; dầu thô giảm 0,5%; sữa bột giảm 6,1%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 7,7%; xe máy giảm 10,3%; thuốc lá điếu giảm 12,5%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn như sau: Long An tăng 12%; Hải Phòng tăng 11,8%; Đà Nẵng tăng 11,1%; Hải Dương tăng 9,9%; Bình Dương tăng 8,4%; Đồng Nai tăng 7,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,7%; Quảng Nam tăng 5,7%; Hà Nội tăng 4,5%; Quảng Ninh tăng 4%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 3,3%; Vĩnh Phúc giảm 3,3%; Bắc Ninh giảm 6,8%, do Công ty Samsung đầu tư thêm nhà máy tại Thái Nguyên nên có sự điều tiết về nguồn lực và sản lượng sản phẩm giữa 02 cơ sở trên.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Chín năm nay tăng 0,8% so với tháng trước tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, chỉ số tiêu thụ ngành này tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2013. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 9 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2013: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 33,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 23,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 17,0%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 13,8%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất trang phục tăng 7,9%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 7,3%; sản xuất đồ uống tăng 7,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 6,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5,9%; dệt tăng 5,6%; sản xuất kim loại tăng 4,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 4,6%; sản xuất thuốc lá giảm 8,8%. 

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/10/2014 tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 10,9% so với cùng thời điểm năm 2013. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm hoặc tăng thấp hơn mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 26,5%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 15,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 11,5%; sản xuất thiết bị điện giảm 10,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 7,7%; sản xuất đồ uống giảm 5,3%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hóa chất tăng 5,0%; sản xuất xe có động cơ tăng 6,9%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 42,6%; sản xuất kim loại tăng 34,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 34,5%; sản xuất trang phục tăng 28,4%; sản xuất sản phẩm điện tử máy, vi tính và quang học tăng 24,1%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 20,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (Trừ máy móc, thiết bị) tăng 16,8%; dệt tăng 12,3%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 9 tháng là 75,9%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 156,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 119,8%; sản xuất, chế biến thực phẩm 97,8%; sản xuất kim loại và sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (Trừ máy móc thiêt bị) có cùng tỷ lệ 88,7%.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2014 tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 5% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,4%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 7%. Tại thời điểm trên, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp khai khoáng giảm 4,3% so với cùng thời điểm năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,8%; sản xuất, phân phối điện tăng 2,4%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,6%.

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn tại thời điểm 01/10/2014 so với cùng thời điểm năm 2013 như sau: Long An tăng 6,1%; Đồng Nai tăng 5,5%; Hải Phòng tăng 4%; Bình Dương tăng 3,9%; Quảng Ninh tăng 3,6%; Vĩnh Phúc tăng 3,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,6%; Bắc Ninh tăng 2,4%; Đà Nẵng tăng 1,7%; Cần Thơ tăng 1,2%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 0,3%; Quảng Ngãi giảm 1,1%.

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Trong tháng Mười, cả nước có 6831 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 32,1 nghìn tỷ đồng, tăng 19% về số doanh nghiệp và tăng 5,1% về số vốn đăng ký so với tháng trước. Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp trong tháng đạt 4,7 tỷ đồng, giảm 11,3% so với tháng trước. Số lao động của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng là 87,9 nghìn người, tăng 1,5% so với tháng trước.

Trong tháng 10/2014, cả nước có 1131 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 19,3% so với tháng trước; có 7141 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động, tăng 57%, bao gồm 703 doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể; 1058 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 5380 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký.

Trong 10 tháng năm 2014, cả nước có 60023 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 352,5 nghìn tỷ đồng, giảm 6,5% về số doanh nghiệp và tăng 9,5% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng đạt 5,9 tỷ đồng, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm 2013. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng là 883,2 nghìn người, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, mặc dù vẫn chưa thực sự thoát khỏi khó khăn nhưng xét trên khía cạnh quy mô, doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng năm 2014 có chất lượng hơn so với cùng kỳ năm 2013. Quá trình đào thải mạnh mẽ trong năm 2014 đã sàng lọc những doanh nghiệp thực sự có chất lượng với việc chủ động tìm kiếm cơ hội kinh doanh để mở rộng quy mô hoạt động. Cụ thể, trong 10 tháng, tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm của cả nước vào nền kinh tế là 827 nghìn tỷ đồng, bao gồm 352,5 nghìn tỷ đồng của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và 474,5 nghìn tỷ đồng của doanh nghiệp thay đổi tăng vốn.

Trong 10 tháng năm nay, cả nước có 54333 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 7730 doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể; 9260 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 37343 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Tổng vốn đăng ký của các doanh nghiệp gặp khó khăn trong 10 tháng là 455,9 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn đăng ký của các doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể là 61,7 nghìn tỷ đồng, đây là vốn đăng ký của doanh nghiệp chắc chắn đã bị loại ra khỏi nền kinh tế; vốn đăng ký của các doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn là 44,9 nghìn tỷ đồng, đây là vốn của các doanh nghiệp gặp khó khăn tạm thời; vốn đăng ký của các doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 349,3 nghìn tỷ đồng, đây là vốn của các doanh nghiệp thực sự khó khăn nhưng chưa hoàn thành thủ tục giải thể, do đó về mặt pháp lý số doanh nghiệp này chưa chính thức bị loại khỏi nền kinh tế. Trong 10 tháng, cả nước có 13003 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm 2013.

Trong 10 tháng, tình hình đăng ký doanh nghiệp phân tách rõ thành ba xu hướng chính:

- Ngành có xu hướng tốt lên khi có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng, trong khi doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động giảm so với cùng kỳ năm 2013 (Dịch vụ lưu trú và ăn uống tương ứng tăng 7,9% và giảm 16,8%...).

 - Một số ngành có sự tái cơ cấu mạnh mẽ, thể hiện qua biến động tăng số lượng doanh nghiệp gia nhập cũng như số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy tăng 58,5% về số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và tăng 25,8% về số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường; xây dựng tăng 28,0% và tăng 2,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,3% và tăng 2,7%; khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác tăng 8,8% và tăng 20,1%; vận tải kho bãi tăng 8,6% và tăng 14,7%; dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác tăng 8,1% và tăng 14,8%; thông tin và truyền thông tăng 7,0% và tăng 24,4%; giáo dục và đào tạo tăng 4,9% và tăng 36,1%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,2% và tăng 8,2%; kinh doanh bất động sản tăng 0,7% và tăng 9,7%.

- Một số ngành vẫn gặp khó khăn so với cùng kỳ năm trước: Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 15,5% về số doanh nghiệp thành lập mới và tăng 11,2% về số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động; khai khoáng giảm 8,5% và tăng 7,8%; hoạt động dịch vụ khác giảm 4,4% và tăng 10,1%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 3,7% và tăng 18,7%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm giảm 2,5% và tăng 8%.

Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười ước tính đạt 19231 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 3578 tỷ đồng; vốn địa phương 15653 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 165,2 nghìn tỷ đồng, bằng 85,9% kế hoạch năm và tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2013, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 35536 tỷ đồng, bằng 89,9% kế hoạch năm và tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 4809 tỷ đồng, bằng 106,2% và giảm 8,7%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2927 tỷ đồng, bằng 84,3% và giảm 6,4%; Bộ Xây dựng 1749 tỷ đồng, bằng 85,9% và tăng 3,6%; Bộ Y tế 788 tỷ đồng, bằng 97,9% và tăng 2,1%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 598 tỷ đồng, bằng 81% và tăng 6,1%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 503 tỷ đồng, bằng 80,5% và tăng 2,7%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 423 tỷ đồng, bằng 93,4% và tăng 3,2%; Bộ Công Thương 279 tỷ đồng, bằng 94,3% và giảm 0,9%; Bộ Khoa học và Công nghệ 234 tỷ đồng, bằng 83,2% và giảm 4,7%; Bộ Thông tin và Truyền thông 217 tỷ đồng, bằng 104,5% và giảm 6,5%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 129675 tỷ đồng, bằng 84,9% kế hoạch năm và tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 88927 tỷ đồng, bằng 81,8% và giảm 0,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 32873 tỷ đồng, bằng 90,7% và tăng 4,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 7875 tỷ đồng, bằng 99,7% và giảm 1,1%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 19271 tỷ đồng, bằng 82,2% kế hoạch năm và giảm 4,2% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 13201 tỷ đồng, bằng 91% và giảm 1,6%; Đà Nẵng 3657 tỷ đồng, bằng 80,1% và giảm 8,2%; Nghệ An 3395 tỷ đồng, bằng 96,5% và tăng 7,6%; Bình Dương 3262 tỷ đồng, bằng 73,1% và tăng 14,1%; Bà Rịa - Vũng Tàu 3188 tỷ đồng, bằng 70,9% và tăng 16,5%; Vĩnh Phúc 3061 tỷ đồng, bằng 86,3% và giảm 5,6%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/10/2014 thu hút 1306 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 9954,5 triệu USD, tăng 24,4% về số dự án và giảm 23,9% về số vốn so với cùng kỳ năm 2013. Đồng thời có 469 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 3747,4 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 13701,9 triệu USD, giảm 28,8% so với cùng kỳ năm 2013. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng năm nay ước tính đạt 10,2 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 10 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt 9702,9 triệu USD, chiếm 70,8% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1225,2 triệu USD, chiếm 8,9%; ngành xây dựng đạt 1031,2 triệu USD, chiếm 7,5%; các ngành còn lại đạt 1742,6 triệu USD, chiếm 12,8%.

Cả nước có 47 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 10 tháng, trong đó thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với số vốn đăng ký đạt 2659,5 triệu USD, chiếm 26,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bắc Ninh 1284,6 triệu USD, chiếm 12,9%; Hải Phòng 786,3 triệu USD, chiếm 7,9%; Bình Dương 660 triệu USD, chiếm 6,6%; Quảng Ninh 570,4 triệu USD, chiếm 5,7%; Đồng Nai 557,7 triệu USD, chiếm 5,6%; Hải Dương 345,9 triệu USD, chiếm 3,5%...

Trong số 55 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam trong 10 tháng, Hàn Quốc vẫn là nhà đầu tư lớn nhất với 2616,1 triệu USD, chiếm 26,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 2192,5 triệu USD, chiếm 22%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) với 1485,8 triệu USD, chiếm 14,9%; Nhật Bản 1003,5 triệu USD, chiếm 10,1%; Đài Loan 452 triệu USD, chiếm 4,5%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 354,3 triệu USD, chiếm 3,6%; Bỉ 277 triệu USD, chiếm 2,8%...

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2014 ước tính đạt 672,3 nghìn tỷ đồng, bằng 85,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa 448,9 nghìn tỷ đồng, bằng 83,3%; thu từ dầu thô 83,2 nghìn tỷ đồng, bằng 97,6%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 137 nghìn tỷ đồng, bằng 89%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 148,3 nghìn tỷ đồng, bằng 80,3% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 96,4 nghìn tỷ đồng, bằng 86,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 88 nghìn tỷ đồng, bằng 82%; thuế thu nhập cá nhân 38,1 nghìn tỷ đồng, bằng 80,4%; thuế bảo vệ môi trường 9,4 nghìn tỷ đồng, bằng 73,9%; thu phí, lệ phí 8,7 nghìn tỷ đồng, bằng 84%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2014 ước tính đạt 809 nghìn tỷ đồng, bằng 80,4% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 134,7 nghìn tỷ đồng, bằng 82,6% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 130,7 nghìn tỷ đồng, bằng 82,7%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể ước tính đạt 567,4 nghìn tỷ đồng, bằng 80,7%; chi trả nợ và viện trợ 106,9 nghìn tỷ đồng, bằng 89,1%.

Thương mại, giá cả và du lịch

Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

Trong tháng Mười, do giá xăng giảm liên tục và giá của các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác ổn định, cùng với việc hàng hoá tiêu dùng thiết yếu tiếp tục được bình ổn, các doanh nghiệp bán lẻ duy trì nhiều hình thức khuyến mãi nên sức mua phần nào được cải thiện so với tháng trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười đạt 251,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 190,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm ngành hàng hóa bán lẻ, hàng may mặc tăng 2,8%; nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 1,6%; đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 1,3%; vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 1,2%; hàng hóa khác tăng 5,1%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch tháng Mười ước tính đạt 31,9 nghìn tỷ đồng, tăng 0,2% so tháng trước và tăng 0,6% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 29,5 nghìn tỷ đồng, tương ứng tăng 0,5% và tăng 0,1%; dịch vụ lữ hành đạt 2,4 nghìn tỷ đồng, giảm 2,8% do yếu tố mùa vụ và tăng 6,9%. So với tháng trước, doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống tháng Mười của Hà Nội tăng 2,2%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 0,6%.

Tính chung 10 tháng năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước đạt 2399,5 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2013, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,4%, cao hơn mức tăng 5,5% của cùng kỳ năm 2013.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng của khu vực kinh tế Nhà nước đạt 243,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng số và tăng 9,4%; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 2075,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 86,5%, tăng 11%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 80,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,4%, tăng 20%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 1808,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,4% tổng số và tăng 11%; dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 289,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,1% tăng 10,8%; dịch vụ khác đạt 276,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,5% tăng 11,8%; du lịch lữ hành đạt 24,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% tăng 16,6%.

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 9/2014 đạt 12,6 tỷ USD, cao hơn 234 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại các loại và linh kiện cao hơn 144 triệu USD; điện tử máy tính và linh kiện cao hơn 52 triệu USD; thủy sản và hàng dệt may cùng cao hơn 42 triệu USD; gạo thấp hơn 42 triệu USD; giày dép thấp hơn 39 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười ước tính đạt 13,2 tỷ USD, tăng 4,5% so với tháng trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 8,9 tỷ USD, tăng 2,8%; khu vực kinh tế trong nước đạt 4,3 tỷ USD, tăng 8,2% với kim ngạch một số mặt hàng chiếm tỷ trọng cao có mức tăng khá: Hàng dệt may tăng 8,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 22,2%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 8,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười tăng 5,5%, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 2,5%, trong đó kim ngạch một số mặt hàng tăng cao: Hàng dệt, may tăng 21,3%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 15,5%; giày dép tăng 11%; cà phê tăng 72,9% về lượng và tăng 85,9% về giá trị; hạt điều tăng 21,1% và tăng 36,5%; gạo tăng 11,5% và tăng 18,4%.

Tính chung 10 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 123,1 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 40,6 tỷ USD, tăng 12,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 82,5 tỷ USD, tăng 13,6%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tăng khá cao: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 19,2 tỷ USD, tăng 6,9%; hàng dệt may đạt 17,6 tỷ USD, tăng 19,3%; giày dép đạt 8,2 tỷ USD, tăng 23,1%; thủy sản đạt 6,5 tỷ USD, tăng 20,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 5,9 tỷ USD, tăng 20,3%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 5 tỷ USD, tăng 13,3%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,6 tỷ USD, tăng 9%; cà phê đạt 3,1 tỷ USD, tăng 33,9%; hạt điều đạt 1,7 tỷ USD, tăng 25,1%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,7 tỷ USD, tăng 12,7%. Do giá cao su xuất khẩu bình quân giảm 36% so với cùng kỳ năm trước nên kim ngạch xuất khẩu cao su đạt 1,5 tỷ USD, giảm 25,4%.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 10 tháng năm nay, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với 23,4 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2013. Tiếp theo là EU đạt 22,6 tỷ USD, tăng 12,8%; ASEAN đạt 15,5 tỷ USD, tăng 0,5%; Trung Quốc đạt 12,5 tỷ USD, tăng 16,2%; Nhật Bản đạt 12,3 tỷ USD, tăng 10,9%; Hàn Quốc đạt 6,1 tỷ USD, tăng 10,9%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 9/2014 đạt 13,2 tỷ USD, cao hơn 216 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử máy tính và linh kiện cao hơn 205 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện cao hơn 84 triệu USD; xăng dầu thấp hơn 65 triệu USD; vải thấp hơn 43 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 10/2014 đạt 13,6 tỷ USD, tăng 2,9% so với tháng trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8 tỷ USD, tăng 1,2%; khu vực kinh tế trong nước đạt 5,6 tỷ USD, tăng 5,5% với kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng cao: Xăng dầu tăng 54,7%; khí đốt hóa lỏng tăng 45,9%; vải tăng 13,5%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép tăng 9,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Mười tăng 8,8%, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,1%; khu vực kinh tế trong nước tăng 4,5%.

Tính chung 10 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 121,2 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 68,7 tỷ USD, tăng 10,7%; khu vực kinh tế trong nước đạt 52,5 tỷ USD, tăng 12%. Trong 10 tháng, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 18,3 tỷ USD, tăng 20,4%; vải đạt 7,7 tỷ USD, tăng 13,4%; xăng dầu đạt 6,9 tỷ USD, tăng 19,4%; sắt thép đạt 6,2 tỷ USD, tăng 10,5%; chất dẻo đạt 5,3 tỷ USD, tăng 12,6%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 3,9 tỷ USD, tăng 24,8%; ô tô đạt 2,8 tỷ USD, tăng 48%, trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 1,1 tỷ USD, tăng 93%;

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 10 tháng, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt 35,6 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2013, nhập siêu từ Trung Quốc ước tính đạt 23,1 tỷ USD, tăng 17,6%. Tiếp theo là ASEAN đạt 19 tỷ USD, tăng 6,6%; Hàn Quốc đạt 17,1 tỷ USD, tăng 2,7%; Nhật Bản đạt 10,3 tỷ USD, tăng 7,9%; EU đạt 7,5 tỷ USD, giảm 3,3%.

Do tháng Chín nhập siêu 582 triệu USD, tháng Mười nhập siêu 400 triệu USD nên xuất siêu 10 tháng còn 1,87 tỷ USD, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) vẫn xuất siêu ở mức khá cao với 13,82 tỷ USD, khu vực trong nước tiếp tục nhập siêu với 11,95 tỷ USD. Mặc dù 10 tháng qua vẫn xuất siêu nhưng hoàn toàn thuộc vào khu vực FDI và chủ yếu dựa trên hàng hóa gia công lắp ráp từ nguyên liệu nhập khẩu. Thực trạng này cho thấy hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa mang lại giá trị gia tăng chưa cao và thiếu bền vững.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2014 tăng 0,11% so với tháng trước, chủ yếu do tăng giá ở nhóm giáo dục và nhóm thuốc và dịch vụ y tế, trong đó nhóm giáo dục tăng 1,31% (Dịch vụ giáo dục tăng 1,46%), đóng góp 0,08% vào mức tăng chung của CPI; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,53% (Dịch vụ y tế tăng 0,59%). Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng do trong tháng có 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh học phí các loại theo lộ trình tăng học phí của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 của Chính phủ Quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015. Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng do điều chỉnh giá dịch vụ y tế của tỉnh Bến Tre ở mức tăng 50,09% và tỉnh Thái Nguyên tăng 1,05%.

Chỉ số giá các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng thấp hơn hoặc giảm so với tháng trước: Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,22%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,19%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,06%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,05%, trong đó lương thực tăng 0,2%; văn hóa thể thao giải trí tăng 0,02%; giao thông giảm 1,02%, trong đó giá dịch vụ giao thông công cộng giảm 0,45% do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam điều chỉnh giá vé tàu hỏa giảm 6,89% so với tháng trước; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,08% (Giá dầu hỏa giảm 2,93%, gas giảm 0,53%, điện sinh hoạt giảm 0,16%); bưu chính viễn thông giảm 0,03%.     

Nhìn chung, chỉ số giá tháng Mười khá ổn định nhờ các yếu tố: Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới ổn định; nguồn cung lương thực, thực phẩm trong nước dồi dào; giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh giảm 03 đợt nên giá xăng dầu giảm 2,19%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2014 tăng 2,36% so với tháng 12/2013 (Bình quân mỗi tháng tăng 0,24%) và tăng 3,23% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá vàng tháng 10/2014 giảm 2,82% so với tháng trước, giảm 2,23% so với tháng 12/2013 và giảm 6,46% so với cùng kỳ năm 2013. Bình quân 10 tháng, giá vàng giảm 12,68% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2014 tăng 0,18% so với tháng trước, tăng 0,45% so với tháng 12/2013 và tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2013. Bình quân 10 tháng, giá đô la Mỹ tăng 0,5% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách 10 tháng năm nay ước tính đạt 2536,1 triệu lượt khách, tăng 7,3% và 113,4 tỷ lượt khách.km, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Vận tải trung ương đạt 27,7 triệu lượt khách, tăng 3,5% và 28 tỷ lượt khách.km, tăng 4,4%; vận tải địa phương đạt 2508,4 triệu lượt khách, tăng 7,4% và 85,3 tỷ lượt khách.km, tăng 8,1%. Vận tải hành khách đường bộ 10 tháng ước tính đạt 2382,1 triệu lượt khách, tăng 7,5% và 83,2 tỷ lượt khách.km, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 15,3 triệu lượt khách, tăng 8,1% và 23,5 tỷ lượt khách.km, tăng 5,7%; đường biển đạt 4,4 triệu lượt khách, tăng 3,2% và 205,9 triệu lượt khách.km, tăng 2%; riêng đường sắt đạt 9,9 triệu lượt khách, giảm 3,2% và 3,6 tỷ lượt khách.km, giảm 2,7%, chủ yếu do chất lượng phương tiện và chất lượng phục vụ còn yếu.

Vận tải hàng hóa 10 tháng ước tính đạt 877,8 triệu tấn, tăng 5,4% và 183,2 tỷ tấn.km, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 853,6 triệu tấn, tăng 5,8% và 84,4 tỷ tấn.km, tăng 3,7%; vận tải ngoài nước đạt 24,2 triệu tấn, giảm 4,8% và 98,8 tỷ tấn.km, giảm 1,8%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 671,4 triệu tấn, tăng 6,8% và 39 tỷ tấn.km, tăng 4,7%; đường sông đạt 154,5 triệu tấn, tăng 3,2% và 32,9 tỷ tấn.km, tăng 3,1%; đường biển đạt 45,8 triệu tấn, giảm 5,6% và 107,4 tỷ tấn.km, giảm 1,9%; đường sắt đạt 5,9 triệu tấn, tăng 10,2% và 3,5 tỷ tấn.km, tăng 12,5%.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười ước tính đạt 559 nghìn lượt người, giảm 3,3% so với tháng trước, chủ yếu do dịch bệnh Ebola nên cư dân các nước hạn chế đi du lịch nước ngoài. Tính chung 10 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 6608,4 nghìn lượt người, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 3994,6 nghìn lượt người, tăng 6,5%; đến vì công việc 1109,1 nghìn lượt người, tăng 8,3%; thăm thân nhân đạt 1133,8 nghìn lượt người, tăng 11,4%. Trong 10 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta qua đường hàng không đạt 5208,5 nghìn lượt người, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2013; khách đến bằng đường bộ đạt 1354,1 nghìn lượt người, tăng 21,5%; khách đến bằng đường biển đạt 45,7 nghìn lượt người, giảm mạnh ở mức 74,3%, chủ yếu do ảnh hưởng của tình hình biển Đông. Lượng khách đến nước ta từ một số quốc gia và vùng lãnh thổ 10 tháng năm nay so với cùng kỳ năm 2013 như sau: Trung Quốc 1684 nghìn lượt người, tăng 9,6%; Hàn Quốc 686,7 nghìn lượt người, tăng 11%; Nhật Bản 535,8 nghìn lượt người, tăng 7,7%; Hoa Kỳ 374,5 nghìn lượt người, tăng 4,1%; Cam-pu-chia 334,6 nghìn lượt người, tăng 21,8%; Đài Loan 331,4 nghìn lượt người, giảm 0,1%; Liên bang Nga 279,5 nghìn lượt người, tăng 22,5%; Ôx-trây-li-a 271,5 nghìn lượt người, tăng 1,8%; Ma-lai-xi-a 264,2 nghìn lượt người, tăng 0,7%.

Một số tình hình xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Mười, cả nước có 5,3 nghìn hộ thiếu đói, giảm 49,5% so với tháng trước, tương ứng với 23,3 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 49,3%. So với cùng kỳ năm 2013, số hộ thiếu đói giảm 63,4%; số nhân khẩu thiếu đói giảm 61,8%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành và tổ chức từ trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 21,8 nghìn tấn lương thực và 19,7 tỷ đồng, riêng tháng Mười hỗ trợ 400 tấn lương thực. 

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Mười, cả nước có 10,1 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 4,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (2 trường hợp tử vong); 778 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó 11 trường hợp dương tính với sởi; 107 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (4 trường hợp tử vong) và 81 trường hợp mắc bệnh thương hàn. Tính chung 10 tháng năm nay, cả nước có 61,2 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (6 trường hợp tử vong); 23,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (17 trường hợp tử vong); 35,9 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó hơn 5,8 nghìn trường hợp xác định mắc sởi (147 trường hợp tử vong); 931 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (40 trường hợp tử vong); 293 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 24 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (3 trường hợp tử vong); 3 trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân (1 trường hợp tử vong) và 2 trường hợp mắc và tử vong do bệnh cúm A (H5N1).

Trong tháng đã phát hiện thêm 980 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV hiện còn sống của cả nước tính đến thời điểm 17/10/2014 là 221,6 nghìn người, trong đó 70,6 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 72,9 nghìn người.

Trong tháng, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 9 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng làm 726 người bị ngộ độc, trong đó 01 trường hợp tử vong. Tính chung 10 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 109 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 3,8 nghìn người bị ngộ độc, trong đó 20 trường hợp tử vong.

Tai nạn giao thông

Trong tháng Mười (từ 16/9 đến 15/10), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 2103 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 919 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1184 vụ va chạm giao thông, làm 717 người chết; 647 người bị thương và 1491 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 16,1% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 1,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 24,6%); số người chết giảm 7,1%; số người bị thương giảm 0,6% và số người bị thương nhẹ giảm 23,8%.

Tính chung 10 tháng năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 20801 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 8697 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 12104 vụ va chạm giao thông, làm 7475 người chết; 5064 người bị thương và 14909 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 14,6% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 4,3%; số vụ va chạm giao thông giảm 20,8%); số người chết giảm 4,3%; số người bị thương giảm 9,3% và số người bị thương nhẹ giảm 20,7%. Bình quân 01 ngày trong 10 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 68 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 29 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 39 vụ va chạm giao thông, làm 25 người chết, 17 người bị thương và 49 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại do thiên tai

Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, thiên tai xảy ra trong tháng đã làm 03 người chết; 480 ngôi nhà bị sập đổ, ngập nước và hư hỏng; hơn 1 nghìn ha lúa và hơn 400 ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính khoảng 16 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng năm nay, thiên tai đã làm 142 người chết và mất tích; 163 người bị thương; hơn 1,7 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; khoảng 44 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, ngập nước; 122 nghìn ha lúa và 42 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra từ đầu năm ước tính khoảng 2,5 nghìn tỷ đồng.

Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng (Tính đến thời điểm 15/10/2014), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 173 vụ cháy, nổ, làm 5 người chết và 13 người bị thương, gây thiệt hại 44,8 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 2078 vụ cháy, nổ nghiêm trọng, làm 92 người chết và 138 người bị thương. Thiệt hại do cháy, nổ gây ra ước tính 590 tỷ đồng.

Trong tháng Mười, cơ quan chức năng đã phát hiện 522 vụ vi phạm về bảo vệ môi trường, trong đó 348 vụ bị xử lý với tổng số tiền phạt là 7,8 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng năm nay, trên địa bàn cả nước đã phát hiện hơn 6 nghìn vụ vi phạm về bảo vệ môi trường, trong đó 3,3 nghìn vụ bị xử lý, tổng số tiền phạt khoảng 347 tỷ đồng.

 

Nguồn: TỔNG CỤC THỐNG KÊ

In bài
Các tin khác
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2014 và nhiệm vụ năm 2015 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII, ngày 20/10/2014
Tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2014
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Phó Tổng Giám đốc phụ trách: Lê Việt Đông
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.