Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2014

Tình hình kinh tế- xã hội 11 tháng năm 2014
28/11/2014 10:00:00


Tình hình kinh tế- xã hội 11 tháng năm 2014

________________________

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Mười Một, cả nước đã thu hoạch được 1383,1 nghìn ha lúa mùa, bằng 93,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc thu hoạch được 1169,1 nghìn ha, chiếm 98,9% diện tích gieo cấy và đạt xấp xỉ cùng kỳ năm 2013; các địa phương phía Nam thu hoạch được 214 nghìn ha, bằng 70,4%.

Tại các tỉnh phía Bắc, mặc dù diện tích gieo cấy lúa mùa giảm nhẹ so với vụ mùa trước nhưng do thời tiết và điều kiện canh tác thuận lợi nên năng suất và sản lượng của các địa phương đều tăng. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa mùa các địa phương phía Bắc đạt 49,9 tạ/ha, tăng 2,4 tạ/ha; sản lượng đạt xấp xỉ 5,9 triệu tấn, tăng 269,3 nghìn tấn so với vụ mùa 2013. Riêng vùng Đồng bằng sông Hồng, năng suất lúa mùa đạt 55 tạ/ha, tăng 2,8 tạ/ha; sản lượng đạt 3,1 triệu tấn, tăng 137,4 nghìn tấn. Ở phía Nam, lúa mùa đang phát triển tốt, ước tính năng suất tăng từ 0,5 đến 1 tạ/ha.

Đến trung tuần tháng Mười Một, các địa phương phía Nam gieo sạ được 203,4 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 128,5% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng Sông Cửu Long gieo cấy 197 nghìn ha, bằng 126%. Diện tích gieo cấy lúa đông xuân tăng khá chủ yếu do thời tiết thuận lợi và một số địa phương thực hiện chuyển đổi diện tích gieo trồng vụ hè thu sang gieo trồng vụ đông xuân sớm.

 Cùng với việc thu hoạch lúa mùa, các địa phương phía Bắc đang tập trung gieo trồng và chăm sóc cây vụ đông. Tính đến thời điểm 15/11, các địa phương phía Bắc gieo trồng được 133,2 nghìn ha ngô, bằng 110% cùng kỳ năm trước; 34,1 nghìn ha khoai lang, bằng 98,8%; 6,3 nghìn ha lạc, bằng 112,5%; 35,5 nghìn ha đậu tương, bằng 86,6%; 153 nghìn ha rau đậu, bằng 102,5%.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2014, đàn trâu cả nước có 2,5 triệu con, giảm 1,9% so với cùng thời điểm năm 2013, chủ yếu giảm ở các tỉnh vùng đồng bằng và trung du. Đàn bò có 5,2 triệu con, tăng 1,4% do chính sách hỗ trợ chăn nuôi bò được triển khai ở nhiều địa phương và giá thịt bò hơi ổn định, người chăn nuôi có lãi (Đàn bò sữa có 217,7 nghìn con, tăng 16,8%). Đàn lợn cả nước có 26,8 triệu con, tăng 2,1% so với cùng thời điểm năm trước, chủ yếu do dịch bệnh được khống chế, giá thức ăn và chi phí đầu vào khác ổn định. Đàn gia cầm cả nước có 328,1 triệu con, tăng 4,6%, trong đó đàn gà 243 triệu con, tăng 4,7%. Hiện nay, các địa phương tập trung tăng cường công tác kiểm soát gia cầm nhập lậu, mặt khác dịch bệnh trên gia cầm cơ bản được khống chế nên người chăn nuôi yên tâm đầu tư tái đàn, chuẩn bị nguồn thực phẩm cung cấp cho nhu cầu tăng lên trong dịp tết Nguyên đán 2015. Tính đến thời điểm 24/11/2014, cả nước không còn địa phương nào có dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng và dịch lợn tai xanh chưa qua 21 ngày.

Lâm nghiệp

Trong tháng, các địa phương đẩy nhanh tiến độ trồng rừng để hoàn thành kế hoạch năm. Diện tích rừng trồng tập trung tháng Mười Một ước tính đạt 25,2 nghìn ha, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 4,5 triệu cây, giảm 4,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 815 nghìn m3, tăng 15,1%; sản lượng củi khai thác đạt 2,4 triệu ste, tăng 4,3%. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng tăng cao do nhu cầu tiêu dùng tăng vào dịp cuối năm. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác lớn: Bình Định 48,4 nghìn m3; Quảng Ngãi 43,9 nghìn m3; Bắc Giang 38,6 nghìn m3; Thanh Hóa 31 nghìn m3.

Tính chung 11 tháng năm nay, diện tích rừng trồng tập trung cả nước đạt 215,2 nghìn ha, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2013; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 157,1 triệu cây, bằng cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 5,3 triệu m3, tăng 9,3%; sản lượng củi khai thác đạt 27,6 triệu ste, tăng 3,7%. Một số địa phương có diện tích trồng rừng nhiều: Tuyên Quang 13,7 nghìn ha; Yên Bái 13,3 nghìn ha; Nghệ An 13,1 nghìn ha; Thanh Hóa và Quảng Nam cùng trồng được 11,8 nghìn ha.

Hiện tượng cháy rừng do thời tiết hanh khô và tình trạng chặt phá rừng để lấy đất sản xuất nông nghiệp vẫn diễn ra ở một số địa phương. Trong tháng, diện tích rừng bị chặt phá là 19,8 ha, diện tích rừng bị cháy là 1,5 ha. Tính chung 11 tháng, tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 3796 ha, tăng 156,7% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó diện tích rừng bị cháy là 3104 ha, tăng 253,6%; diện tích rừng bị chặt phá là 692 ha, tăng 15%.

Thuỷ sản

Sản lượng thủy sản tháng Mười Một ước tính đạt 471,4 nghìn tấn, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 346,1 nghìn tấn, tăng 5,7%; tôm đạt 71,7 nghìn tấn, tăng 7,7%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 264 nghìn tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 191,5nghìn tấn, tăng 0,3%; tôm đạt 56,3 nghìn tấn, tăng 7%. Nuôi cá tra có chiều hướng thuận lợi do doanh nghiệp tăng cường thu mua cá tra nguyên liệu chuẩn bị hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng cuối năm nên giá cá tra tăng nhẹ. Tuy nhiên, sản lượng cá tra thu hoạch trong tháng ở hầu hết các tỉnh trọng điểm vẫn giảm do khó khăn từ những tháng trước đó dẫn đến diện tích nuôi bị thu hẹp. Một số địa phương có sản lượng cá tra giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước: Bến Tre đạt 9,5 nghìn tấn, giảm 28,8%; Vĩnh Long đạt 4 nghìn tấn, giảm 18%; Cần Thơ đạt 9,5 nghìn tấn, giảm 9,5%. Trong khi đó, nuôi trồng tôm tại các địa phương phát triển khá ổn định do tôm được giá và nhiều hộ quay trở lại nuôi tôm sú. Một số địa phương có sản lượng tôm sú tăng cao: Bạc Liêu đạt 6 nghìn tấn, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2013; Trà Vinh đạt 1,3 nghìn tấn, tăng 67,8%.

Khai thác thủy sản trong tháng đạt khá do thời tiết biển thuận lợi, giá một số loại thủy sản tăng nên ngư dân tăng cường ra khơi bám biển. Sản lượng thủy sản trong tháng ước tính đạt 207,4 nghìn tấn, tăng 13,1% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, khai thác biển đạt 191 nghìn tấn, tăng 14,6%. Tính chung 11 tháng năm nay, sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 5736,9 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó thủy sản nuôi trồng đạt 3043,8 nghìn tấn, tăng 4,5%; thủy sản khai thác đạt 2693,1 nghìn tấn, tăng 5,1%.

Công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười Một ước tính tăng 5,3% so với tháng trước và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2013. Đây là tháng có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng cao nhất so với cùng kỳ năm trước trong 9 tháng qua (Không bao gồm tháng Một và tháng Hai là 02 tháng bị ảnh nhiều bởi yếu tố Tết Nguyên Đán), trong đó ngành khai khoáng và ngành chế biến, chế tạo cùng tăng 11,0%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,6%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 7,6%.

Tính chung 11 tháng năm nay, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2013 (Quý I tăng 5,3%, quý II tăng 6,9%, quý III tăng 7,8%) cao hơn mức tăng 5,6% của cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng chung 11 tháng của toàn ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 8,6%,  đóng góp 6,0 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 11,7%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 6,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 2,7%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm.

Trong các ngành sản xuất, một số ngành có chỉ số sản xuất 11 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 34,9%; sản xuất xe có động cơ tăng 21,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 21,6%; dệt tăng 19,3%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) và khai khoáng khác có cùng mức tăng 14,1%; sản xuất trang phục tăng 12,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,7%; sản xuất kim loại tăng 10,4%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất đồ uống tăng 9,0%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 8,6%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,2%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,3%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 4,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4,0%; sản xuất thiết bị điện tăng 3,0%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 2,6%; khai thác than cứng và than non tăng 0,9%; sản xuất thuốc lá tiếp tục giảm ở mức 13,0%.

Trong các sản phẩm công nghiệp, một số sản phẩm đạt mức tăng cao trong 11 tháng: Điện thoại di động tăng 59,3% so với cùng kỳ năm trước; ô tô tăng 28,3%; sữa tươi tăng 20,4%; giày, dép da tăng 20,0%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 15,8%. Một số sản phẩm tăng khá: Điện sản xuất tăng 12,3%; tivi tăng 11,0%; quần áo mặc thường tăng 10,3%; thủy hải sản chế biến tăng 10,0%; bột giặt và các chế phẩm dùng cho tẩy rửa tăng 9,6%. Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: Dầu gội, dầu xả giảm 0,2%; sữa bột giảm 7,2%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 7,6%; xe máy giảm 10,0%; thuốc lá điếu giảm 13,1%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn như sau: Long An tăng 12,1%; Hải Phòng tăng 12,0%; Đà Nẵng tăng 11,1%; Hải Dương tăng 10,1%; Bình Dương tăng 8,8%; Đồng Nai tăng 7,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,8%; Quảng Nam tăng 6,1%; Quảng Ninh tăng 4,8%; Hà Nội tăng 4,6%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 4,1%; Vĩnh Phúc giảm 2,8%; Bắc Ninh giảm 11,3%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Mười năm nay tăng 4,1% so với tháng trước tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, chỉ số tiêu thụ ngành này tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2013. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 10 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2013: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 32,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 23,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 17,1%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 12,9%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 8,2%; sản xuất trang phục và sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác cùng tăng 8,1%; sản xuất đồ uống tăng 6,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 6,8%; sản xuất kim loại tăng 5,7%; dệt tăng 5,6%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 4,8%; sản xuất thuốc lá giảm 10,0%. 

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/11/2014 giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 10,2% so với cùng thời điểm năm 2013. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm hoặc tăng thấp hơn mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 21,6%; sản xuất giường tủ, bàn ghế giảm 16,7%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 11,6%; sản xuất da và sản phẩm có liên quan giảm 10,1%; sản xuất thiết bị điện giảm 8,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 4,1; sản xuất hoá chất và sản phẩm hóa chất giảm 0,2%; sản xuất đồ uống tăng 6,7%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 55,3%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 37,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 30,5%; sản xuất kim loại tăng 28,9%; sản xuất trang phục tăng 27,1%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 24,4%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân tháng Mười là 67,9%; bình quân 10 tháng là 75,1%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 154,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 118,1%; sản xuất, chế biến thực phẩm 96,0%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiêt bị) 89,1%; sản xuất kim loại 87,8%.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/11/2014 tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 3,0%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 7,9%. Tại thời điểm trên, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp khai khoáng giảm 4,8% so với cùng thời điểm năm 2013; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,0%; sản xuất, phân phối điện tăng 2,4%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 1,5%.

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn tại thời điểm 01/11/2014 như sau: Đồng Nai tăng 9,1% so với cùng thời điểm năm 2013; Bắc Ninh tăng 6,6%; Vĩnh Phúc tăng 6,4%; Long An tăng 6,3%; Quảng Nam tăng 5,4%; Bình Dương tăng 4,0%;  thành phố Hồ Chí Minh và Đà nẵng cùng tăng 1,7%; Hải Phòng và Bà Rịa-Vũng Tàu cùng tăng 1,4%; Quảng Ngãi tăng 0,4%; Cần Thơ tăng 0,2%; Quảng Ninh giảm 0,6%.

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp[1]

Trong tháng Mười Một, cả nước có 7767 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 38,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,7% về số doanh nghiệp và tăng 20,8% về số vốn đăng ký so với tháng trước. Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp trong tháng đạt 5 tỷ đồng, tăng 6,3% so với tháng trước. Số lao động của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng là 108,8 nghìn người, tăng 23,7% so với tháng trước.

Trong tháng 11/2014, cả nước có 1205 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 6,5% so với tháng trước; có 7033 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động, giảm 1,5%, bao gồm 931 doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể; 1104 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 4998 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký.

Trong 11 tháng năm nay, cả nước có 67790 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 391,3 nghìn tỷ đồng, giảm 4,5% về số doanh nghiệp và tăng 8,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 11 tháng đạt 5,8 tỷ đồng, tăng 14,0% so với cùng kỳ năm 2013. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong 11 tháng là 992 nghìn người, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, mặc dù vẫn chưa thực sự thoát khỏi bối cảnh khó khăn nhưng xét trên khía cạnh quy mô vốn, doanh nghiệp thành lập mới trong 11 tháng năm 2014 đã tăng hơn so với cùng kỳ năm 2013. Điều đó cho thấy môi trường kinh doanh đã được cải thiện, tạo niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh.

Xu hướng thanh lọc diễn ra mạnh mẽ từ năm 2013 đến nay đã sàng lọc những doanh nghiệp thực sự có chất lượng, không chỉ linh hoạt để tồn tại qua giai đoạn khó khăn nhất mà còn tìm kiếm thêm cơ hội kinh doanh mới để mở rộng quy mô hoạt động. Cụ thể, trong 11 tháng, có 20,8 nghìn lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn với tổng số vốn đăng ký tăng thêm là 544,7 nghìn tỷ đồng. Như vậy, tổng số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 11 tháng năm 2014 là 935,9 nghìn tỷ đồng, bao gồm 391,3 nghìn tỷ đồng của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và 544,6 nghìn tỷ đồng của doanh nghiệp thay đổi tăng vốn.

Trong 11 tháng năm nay, cả nước có 60340 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 8661 doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể; 10147 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 41532 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Điều này cho thấy cộng đồng doanh nghiệp vẫn trong giai đoạn khó khăn. Để sớm có sự phát triển ổn định hơn, bên cạnh yêu cầu phải giải quyết những hạn chế nội tại, cộng đồng doanh nghiệp trong nước cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ, thiết thực hơn nữa từ những chính sách, giải pháp tháo gỡ khó khăn của Chính phủ, các Bộ, ngành.

Trong 11 tháng, cả nước có 14208 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2013. Đây là tín hiệu tốt của nền kinh tế, tạo thêm cơ hội đầu tư, kinh doanh cho những doanh nghiệp đang gặp khó khăn.

Tình hình đăng ký và hoạt động của doanh nghiệp trong 11 tháng năm nay theo ba xu hướng chính:

- Ngành có xu hướng tốt lên khi có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng, trong khi doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động giảm so với cùng kỳ năm 2013 (Hoạt động dịch vụ khác tương ứng tăng 8,3% và giảm 18,7%...).

 - Một số ngành có sự tái cơ cấu mạnh mẽ, thể hiện qua biến động tăng số lượng doanh nghiệp gia nhập cũng như số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,7% về số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và tăng 8,6% về số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường; giáo dục và đào tạo tăng 8,1% và tăng 38,7%; kinh doanh bất động sản tăng 29,3% và tăng 1,2%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 30,2% và tăng 6,7%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 66,4% và tăng 24,5; sản xuất phân phối điện, nước, gas tăng 4,9% và tăng 17,7%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 2,36% và tăng 9,0%; thông tin và truyền thông tăng 9,2% và tăng 20,8%; vận tải kho bãi tăng 10,5% và tăng 17,3%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 5,9% và tăng 23,8%.

- Một số ngành vẫn gặp khó khăn: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy giảm 13,8% về số doanh nghiệp thành lập mới và tăng 12,7% về số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 0,6% và tăng 9,3%; khai khoáng giảm 0,8% và tăng 19,6%; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác giảm 3,2% và tăng 9,5%; xây dựng giảm 6,0% và tăng 7,7%.

Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười Một ước tính đạt 19465 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 3398 tỷ đồng; vốn địa phương 16067 tỷ đồng. Tính chung 11 tháng năm nay, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 183938 tỷ đồng, bằng 95,6% kế hoạch năm và tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2013, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 38516 tỷ đồng, bằng 97,5% kế hoạch năm và tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 5128 tỷ đồng, bằng 113,2% và giảm 9,7%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 3240 tỷ đồng, bằng 93,3% và giảm 7,2%; Bộ Xây dựng 1914 tỷ đồng, bằng 94% và tăng 3,6%; Bộ Y tế 858 tỷ đồng, bằng 106,5% và tăng 1,7%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 673 tỷ đồng, bằng 91,1% và tăng 7,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 565 tỷ đồng, bằng 90,4% và tăng 2,2%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 446 tỷ đồng, bằng 98,5% và giảm 2%; Bộ Công Thương 295 tỷ đồng, bằng 99,8% và giảm 5,3%; Bộ Khoa học và Công nghệ 253 tỷ đồng, bằng 90,2% và giảm 6,6%; Bộ Thông tin và Truyền thông 232 tỷ đồng, bằng 111,7% và giảm 7,9%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 145422 tỷ đồng, bằng 95,2% kế hoạch năm và tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 99937 tỷ đồng, bằng 92% và giảm 0,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 36565 tỷ đồng, bằng 100,9% và tăng 3,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 8921 tỷ đồng, bằng 113% và giảm 1,5%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 21310 tỷ đồng, bằng 90,9% kế hoạch năm và giảm 7,5% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh đạt 14716 tỷ đồng, bằng 101,5% và tăng 0,5%; Đà Nẵng 3873 tỷ đồng, bằng 84,8% và giảm 15,9%; Bình Dương 3827 tỷ đồng, bằng 85,7% và tăng 14,4%; Nghệ An 3802 tỷ đồng, bằng 108,1% và tăng 7,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu 3601 tỷ đồng, bằng 80,1% và tăng 16,1%; Vĩnh Phúc 3406 tỷ đồng, bằng 96% và giảm 3,9%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/11/2014 thu hút 1427 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 13410,7 triệu USD, tăng 21,4% về số dự án và giảm 2,7% về số vốn so với cùng kỳ năm 2013. Đồng thời có 515 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 3920,1 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 17330,8 triệu USD, giảm 16,7% so với cùng kỳ năm 2013. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 11 tháng năm nay ước tính đạt 11,2 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 11 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt 13155,5 triệu USD, chiếm 75,9% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1273,1 triệu USD, chiếm 7,3%; ngành xây dựng đạt 1028,3 triệu USD, chiếm 5,9%; các ngành còn lại đạt 1873,9 triệu USD, chiếm 10,9%.

Cả nước có 47 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 11 tháng, trong đó Thái Nguyên dẫn đầu với số vốn đăng ký đạt 3167,2 triệu USD, chiếm 23,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh 2781 triệu USD, chiếm 20,7%; Bắc Ninh 1316,4 triệu USD, chiếm 9,8%; Hải Phòng 796,4 triệu USD, chiếm 5,9%; Bình Dương 684,8 triệu USD, chiếm 5,1%; Đồng Nai 576,7 triệu USD, chiếm 4,3%; Quảng Ninh 570,4 triệu USD, chiếm 4,3%...

Trong số 57 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam trong 11 tháng, Hàn Quốc tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất với 5807,4 triệu USD, chiếm 43,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 2298,2 triệu USD, chiếm 17,1%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 1499 triệu USD, chiếm 11,2%; Nhật Bản 1016,4 triệu USD, chiếm 7,6%; Đài Loan 468 triệu USD, chiếm 3,5%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 398,3 triệu USD, chiếm 3%; Bỉ 277 triệu USD, chiếm 2,1%...

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/11/2014 ước tính đạt 759,7 nghìn tỷ đồng, bằng 97,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 513,2 nghìn tỷ đồng, bằng 95,2%; thu từ dầu thô 91,5 nghìn tỷ đồng, bằng 107,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 151,1 nghìn tỷ đồng, bằng 98,1%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 174,5 nghìn tỷ đồng, bằng 94,5% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 108,7 nghìn tỷ đồng, bằng 97,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 99,3 nghìn tỷ đồng, bằng 92,6%; thuế thu nhập cá nhân 42,3 nghìn tỷ đồng, bằng 89,3%; thuế bảo vệ môi trường 10,3 nghìn tỷ đồng, bằng 81,3%; thu phí, lệ phí 9,7 nghìn tỷ đồng, bằng 94%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/11/2014 ước tính đạt 894,2 nghìn tỷ đồng, bằng 88,8% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 145,3 nghìn tỷ đồng, bằng 89,1% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 140,8 nghìn tỷ đồng, bằng 89,1%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể ước tính đạt 629,5 nghìn tỷ đồng, bằng 89,5%; chi trả nợ và viện trợ 119,4 nghìn tỷ đồng, bằng 99,5%.

Thương mại, giá cả và du lịch

Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Một đạt 265 nghìn tỷ đồng, tăng 3% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 197 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm ngành hàng hóa bán lẻ, nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 2,4% so với tháng trước; hàng may mặc tăng 3,1%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 3,6%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 1,2%...

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Mười Một tăng một mặt do các đơn vị tập trung đầu tư mua nguồn nguyên vật liệu để đẩy nhanh tiến độ sản xuất kinh doanh cuối năm. Mặt khác, thị trường giá cả ổn định, nhiều mặt hàng lương thực thực phẩm, đồ dùng gia đình có xu hướng giảm giá; nhiều cơ sở bán lẻ thực hiện các chương trình khuyến mại cũng là những yếu tố đẩy mức tiêu dùng trong nước tăng. 

Doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống tháng Mười Một đạt 34,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do yếu tố mùa vụ và tập trung ở một số tỉnh, thành phố lớn có nhiều danh lam thắng cảnh thu hút khách quốc tế. So với tháng trước, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Mười Một của Hà Nội tăng 1,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,6%.

Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành trong tháng ước tính đạt 2,1 nghìn tỷ đồng, giảm 3% so với tháng trước (Do lượng khách du lịch nội địa và số khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích du lịch thuần tuý giảm) và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2013.

Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước tính đạt 31,6 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5% so với tháng trước và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2013. Nếu xét riêng một số ngành cho thấy: Mặc dù ngành kinh doanh bất động sản với gói hỗ trợ 30 nghìn tỷ đồng của Chính Phủ bước đầu làm cho thị trường này nóng hơn so với các tháng đầu năm nhưng nhìn chung giá cho thuê các căn hộ và văn phòng làm việc vẫn chưa được cải thiện. Các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh cá thể trong lĩnh vực y tế và giáo dục thu được kết quả cao hơn so với tháng trước (Khối y tế tăng 2,2%; giáo dục và đào tạo tăng 2,5%).

Doanh thu dịch vụ khác tháng Mười Một so với tháng trước của một số tỉnh, thành phố như sau: Hà Nội tăng 2% (Ngành kinh doanh bất động sản tăng 2,6%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ giảm 0,34%, giáo dục và đào tạo của khối doanh nghiệp và cá thể tăng 0,5%). Thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,5% (Khối doanh nghiệp và cá thể hoạt động y tế và trợ giúp xã hội tăng 3,3%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí tăng 3,4%; các dịch vụ khác phục vụ cá nhân và cộng đồng tăng 4%).

Tính chung 11 tháng năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước đạt 2670,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2013, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,5%. Xét theo loại hình kinh tế: khu vực kinh tế Nhà nước đạt 270,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,2% tổng số và tăng 8,9%; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 2310,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 86,5%, tăng 11%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 89,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,3%, tăng 22%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 2006,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,1% tổng số và tăng 11,3%; dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 327,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,3% tăng 12%; dịch vụ khác đạt 309,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% tăng 8,1%; du lịch lữ hành đạt 26,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% tăng 16,4%.

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng Mười năm nay đạt 14,1 tỷ USD, cao hơn 868 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại các loại và linh kiện cao hơn 320 triệu USD; điện tử máy tính và linh kiện cao hơn 171 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 144 triệu USD; giày dép cao hơn 83 triệu USD; sắt thép cao hơn 61 triệu USD; thủy sản cao hơn 59 triệu USD; dầu thô cao hơn 49 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười Một ước tính đạt 13,2 tỷ USD, giảm  6,2% so với tháng trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 9 tỷ USD, giảm 6%; khu vực kinh tế trong nước đạt 4,2 tỷ USD, giảm 6,5% do kim ngạch một số mặt hàng chiếm tỷ trọng cao giảm mạnh: Sắt thép giảm 28,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 20,4%; cao su giảm 17%; gạo giảm 15,7%; thủy sản giảm 13,1%; dệt may giảm 10,5%.

So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười Một tăng 10,6%, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 10,2% với kim ngạch một số mặt tăng cao: Hàng dệt may tăng 20,3%, gạo tăng 45,6%, thủy sản tăng 12,1%; khu vực trong nước tăng 11,4%.

Tính chung 11 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 137 tỷ USD, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 44,8 tỷ USD, tăng 13%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 92,2 tỷ USD, tăng 14,1%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tăng ở mức khá: Hàng dệt may đạt 19,2 tỷ USD, tăng 18,2%; giày dép đạt 9,2 tỷ USD, tăng 23%; thủy sản đạt 7,3 tỷ USD, tăng 20,2%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 6,7 tỷ USD, tăng 21,6%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 5,6 tỷ USD, tăng 13,%; cà phê đạt 3,3 tỷ USD, tăng 34,3%; hạt điều đạt 1,8 tỷ USD, tăng 23%; hạt tiêu đạt 1,2 tỷ USD, tăng 35,7%. Một số mặt hàng giảm cả về lượng và kim ngạch: Than đá giảm 40,1% về lượng(4,6 nghìn tấn) và giảm 37,9% về kim ngạch (309 triệu USD); xăng dầu giảm 22,7% (275 nghìn tấn) và giảm 22,9% (259 triệu USD). Riêng lượng cao su xuất khẩu mặc dù tăng nhẹ với 1,7% nhưng kim ngạch giảm sâu ở mức 26,2% do giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh ở mức 27,5% so với cùng kỳ năm 2013.

Về thị trường xuất khẩu hàng hóa 11 tháng, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 26,2 tỷ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm 2013; tiếp theo là EU đạt 24,8 tỷ USD, tăng 11,4%; ASEAN đạt 17,3 tỷ USD, tăng 3%; Trung Quốc đạt 13,5 tỷ USD, tăng 13,1%; Nhật Bản đạt 13,6 tỷ USD, tăng 9,9%; Hàn Quốc đạt 6,7 tỷ USD, tăng 10,8%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng Mười năm nay đạt 14,1 tỷ USD, cao hơn 472 triệu USD so với số ước tính, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 136 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện cao hơn 133 triệu USD; điện tử máy tính và linh kiện cao hơn 67 triệu USD; vải cao hơn 56 triệu USD; sắt thép cao hơn 43 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 11/2014 đạt 13,5 tỷ USD, giảm 4,1% so với tháng trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,9 tỷ USD, giảm  4,1%; khu vực kinh tế trong nước đạt 5,6 tỷ USD, giảm 4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Mười Một tăng 23,1%, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 29,1%; khu vực kinh tế trong nước tăng 15,6% với kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ: Vải tăng 18,3%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép tăng 26,5%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 25,5%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 11 tháng năm nay ước tính đạt 135 tỷ USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 76,7 tỷ USD, tăng 12,5%; khu vực kinh tế trong nước đạt 58,3 tỷ USD, tăng 12,7%. Trong 11 tháng, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 20,5 tỷ USD, tăng 21,1%; vải đạt 8,7 tỷ USD, tăng 14,6%; xăng dầu đạt 7,2 tỷ USD, tăng 13,9%; sắt thép đạt 7 tỷ USD, tăng 13,7%; chất dẻo đạt 5,8 tỷ USD, tăng 11,7%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 4,3 tỷ USD, tăng 25,4%; sản phẩm chất dẻo đạt 2,9 tỷ USD, tăng 22,5%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 11 tháng, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, ước tính kim ngạch đạt 39,9 tỷ USD, tăng 18,9%  so với cùng kỳ năm 2013. Nhập siêu từ Trung Quốc 11 tháng đạt 26,4 tỷ USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là thị trường ASEAN đạt 20,9 tỷ USD, tăng 7%; Hàn Quốc đạt 19,8 tỷ USD, tăng 4,2%; Nhật Bản đạt 11,6 tỷ USD, tăng 9,7%;  EU đạt 8 tỷ USD, giảm 4,5%.

Tháng Mười Một nhập siêu 300 triệu USD. Tính chung 11 tháng năm nay xuất siêu 2,06 tỷ USD, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) vẫn xuất siêu ở mức khá cao với 15,54 tỷ USD, khu vực trong nước tiếp tục nhập siêu với 13,48 tỷ USD.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2014 giảm 0,27% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh giảm hai đợt (23/10/2014 và 7/11/2014)  tác động làm giá nhóm giao thông giảm nhiều ở mức 2,75%, đóng góp 0,24% vào mức giảm chung của giá tiêu dùng. Mặt khác, giá gas thế giới giảm mạnh dẫn đến giá gas trong nước được điều chỉnh giảm tại thời điểm 01/11/2014 cũng góp phần làm cho CPI tháng Mười Một giảm so với tháng trước. Một số nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có giá giảm so với tháng trước: Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,74%, trong đó giá dầu hỏa giảm 6,31%, giá gas giảm 4,37%, giá điện sinh hoạt giảm 1,52%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,03%, trong đó lương thực tăng 0,12%, thực phẩm giảm 0,1%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%.

Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có giá tăng nhẹ so với tháng trước: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,34%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,12%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%, trong đó giá dịch vụ y tế không biến động; giáo dục tăng 0,03%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2014 tăng 2,08% so với tháng 12/2013 và tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2014 tăng 4,3% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá vàng tháng 11/2014 giảm 1,49% so với tháng trước; giảm 3,68% so với tháng 12 năm trước và giảm 6,89% so với cùng kỳ năm trước. Giá vàng bình quân 11 tháng năm nay giảm 12,17% so với bình quân cùng kỳ năm 2013.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2014 tăng 0,23% so với tháng trước, tăng 0,68% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,73% so với cùng kỳ năm 2013. Giá đô la Mỹ bình quân 11 tháng năm nay tăng 0,52% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách 11 tháng năm nay ước tính đạt 2796,7 triệu lượt khách, tăng 7,5% và 124,2 tỷ lượt khách.km, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Vận tải trung ương đạt 30,2 triệu lượt khách, tăng 3,4% và 30,7 tỷ lượt khách.km, tăng 4%; vận tải địa phương đạt 2766,5 triệu lượt khách, tăng 7,6% và 93,5 tỷ lượt khách.km, tăng 8,4%. Vận tải hành khách đường bộ 11 tháng ước tính đạt 2628,7 triệu lượt khách, tăng 7,7% và 91,2 tỷ lượt khách.km, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 16,8 triệu lượt khách, tăng 8,8% và 25,9 tỷ lượt khách.km, tăng 5,7%; đường biển đạt 4,8 triệu lượt khách, tăng 3% và 226 triệu lượt khách.km, tăng 1,6%; riêng đường sắt đạt 10,7 triệu lượt khách, giảm 4,5% và 3,8 tỷ lượt khách.km, giảm 5,9%.

Vận tải hàng hóa 11 tháng ước tính đạt 970,9 triệu tấn, tăng 5,3% và 202,4 tỷ tấn.km, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 944 triệu tấn, tăng 5,6% và 91,3 tỷ tấn.km, tăng 4,8%; vận tải ngoài nước đạt 26,9 triệu tấn, giảm 4,3% và 111,1 tỷ tấn.km, giảm 1,5%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 742,7 triệu tấn, tăng 6,7% và 43,4 tỷ tấn.km, tăng 4,8%; đường sông đạt 170,8 triệu tấn, tăng 3% và 36,5 tỷ tấn.km, tăng 3,6%; đường biển đạt 50,6 triệu tấn, giảm 5,4% và 118,1 tỷ tấn.km, giảm 1,1%; đường sắt đạt 6,6 triệu tấn, tăng 10,4% và 3,9 tỷ tấn.km, tăng 12,8%.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta 11 tháng ước tính đạt 7217 nghìn lượt người, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 4363,5 nghìn lượt người, tăng 3,9%; đến vì công việc 1210,9 nghìn lượt người, tăng 5,7%; thăm thân nhân đạt 1237,2 nghìn lượt người, tăng 8,6%. Khách quốc tế đến nước ta bằng đường hàng không là 5700,7 nghìn lượt người, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2013; khách đến bằng đường biển tiếp tục giảm mạnh, chỉ đạt 46,3 nghìn lượt người, giảm 74,8%; khách đến bằng đường bộ 1470 nghìn lượt người, tăng 17,3%.

Trong 11 tháng năm nay, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta tăng so với cùng kỳ năm trước: Trung Quốc đạt 1813,6 nghìn lượt người, tăng 5,1%; Hàn Quốc 764,8 nghìn lượt người, tăng 12%; Nhật Bản 591,7 nghìn lượt người, tăng 6,9%; Hoa Kỳ 406,8 nghìn lượt người, tăng 2,6%; Cam-pu-chia 366,7 nghìn lượt người, tăng 18,2%; Nga 330,3 nghìn lượt người, tăng 25,2%; Ôx-trây-li-a 291,6 nghìn lượt người, tăng 0,5%; Pháp 197,4 nghìn lượt người,tăng 2,1%; Vương quốc Anh 187,6 nghìn lượt người, tăng 10,4%; Xin-ga-po 176,2 nghìn lượt người, tăng 3,1%. Một số nước và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta giảm: Đài Loan 358,9 nghìn lượt người, giảm 2,1%; Ma-lai-xi-a 293,1 nghìn lượt người, giảm 1,2%; Thái Lan 226,1 nghìn lượt người, giảm 6,5%.

Một số tình hình xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Mười Một, cả nước có 3,3 nghìn hộ thiếu đói, giảm 37,7% so với tháng trước, tương ứng với 14,4 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 38,2%. So với cùng kỳ năm 2013, số hộ thiếu đói giảm 77,5%; số nhân khẩu thiếu đói giảm 77,1%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành và tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 22 nghìn tấn lương thực và 19,7 tỷ đồng. 

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Mười Một, cả nước có 8,4 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 4,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (02 trường hợp tử vong); 77 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (02 trường hợp tử vong) và 48 trường hợp mắc bệnh thương hàn. Tính chung 11 tháng năm nay, cả nước có 69,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (07 trường hợp tử vong); 28,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (19 trường hợp tử vong); 36,2 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó hơn 5,8 nghìn trường hợp được xác định mắc sởi (147 trường hợp tử vong); hơn 1 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (42 trường hợp tử vong); 341 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 24 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (03 trường hợp tử vong); 03 trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân (01 trường hợp tử vong) và 02 trường hợp mắc và tử vong do bệnh cúm A (H5N1).

Trong tháng đã phát hiện 1,8 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV hiện còn sống của cả nước tính đến thời điểm 17/11/2014 là 221,6 nghìn người, trong đó 70,6 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 72,9 nghìn người.

Trong tháng 11, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 12 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng làm 310 người bị ngộ độc, trong đó 04 trường hợp tử vong. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 121 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 4,1 nghìn người bị ngộ độc, trong đó 24 trường hợp tử vong.

Tai nạn giao thông

Trong tháng Mười Một (từ 16/10 đến 15/11), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 2455 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 992 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1463 vụ va chạm giao thông, làm 797 người chết; 621 người bị thương và 1840 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 12,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 7%; số vụ va chạm giao thông giảm 15,4%); số người chết giảm 2,1%; số người bị thương giảm 14,9% và số người bị thương nhẹ giảm 15,9%.

Tính chung 11 tháng năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 23256 vụ tai nạn giao thông, bao gồm  9689 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 13567 vụ va chạm giao thông, làm 8272 người chết; 5685 người bị thương và 16749 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông 11 tháng giảm 14,4% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 4,6%; số vụ va chạm giao thông giảm 20,2%); số người chết giảm 4,1%; số người bị thương giảm 9,9% và số người bị thương nhẹ giảm 20,2%. Bình quân 01 ngày trong 11 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 70 vụ tai nạn giao thông, gồm 29 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 41 vụ va chạm giao thông, làm 25 người chết, 19 người bị thương và 50 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại do thiên tai

Trong 11 tháng năm 2014, thiên tai đã làm 142 người chết và mất tích; 163 người bị thương; hơn 1,7 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; khoảng 44 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, ngập nước; 122 nghìn ha lúa và 42 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra từ đầu năm ước tính khoảng 2,5 nghìn tỷ đồng.

Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng (Tính đến thời điểm 15/11/2014), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 174 vụ cháy, nổ, làm 19 người chết và 14 người bị thương, gây thiệt hại 199,4 tỷ đồng. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 2252 vụ cháy, nổ nghiêm trọng, làm 107 người chết và 156 người bị thương. Thiệt hại do cháy, nổ gây ra trong 11 tháng ước tính 789 tỷ đồng.

Trong tháng Mười Một, cơ quan chức năng đã phát hiện 531 vụ vi phạm về bảo vệ môi trường, trong đó 306 vụ bị xử lý với tổng số tiền phạt gần 7,9 tỷ đồng. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn cả nước đã phát hiện 6,6 nghìn vụ vi phạm về bảo vệ môi trường, trong đó 3,6 nghìn vụ vi phạm bị xử lý, tổng số tiền phạt hơn 382 tỷ đồng.

 

(Nguồn: TỔNG CỤC THỐNG KÊ)



[1] Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

In bài
Các tin khác
Tình hình kinh tế-xã hội 10 tháng năm 2014
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2014 và nhiệm vụ năm 2015 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII, ngày 20/10/2014
Tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2014
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Phó Tổng Giám đốc phụ trách: Lê Việt Đông
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.