Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2011

Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2011
22/08/2011 15:33:00


Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2011

_____________

 

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng Bảy tập trung chủ yếu vào gieo cấy lúa mùa, lúa hè thu và thu hoạch lúa hè thu sớm. Tính đến 15/7/2011, cả nước đã gieo cấy được 723 nghìn ha lúa mùa, bằng 70,6% cùng kỳ năm trước. Trong đó, các địa phương phía Bắc gieo cấy được 566,8 nghìn ha, bằng 64,1% cùng kỳ năm 2010 (Vùng đồng bằng sông Hồng gieo cấy 220,4 nghìn ha, bằng 49%), chủ yếu do thời vụ thu hoạch lúa đông xuân năm nay muộn hơn năm trước. Một số địa phương có tiến độ gieo cấy chậm là: Bắc Ninh bằng 12,8% cùng kỳ năm trước, Hải Phòng 13,9%, Hải Dương 36%, Thái Nguyên 49,6%. Các địa phương phía Nam gieo cấy được 156,2 nghìn ha, bằng 111,8% cùng kỳ năm 2010.

Cũng đến trung tuần tháng Bảy, cả nước đã gieo cấy được 2258,4 nghìn ha lúa hè thu, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 1862,7 nghìn ha, tăng 4,8%. Cùng với việc gieo cấy lúa hè thu, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch được 756,2 nghìn ha lúa hè thu sớm, chiếm 40,5% diện tích xuống giống và tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2010. Năng suất lúa trên diện tích đã thu hoạch đạt khá, ước tính tăng từ 1-2 tạ/ha.

Gieo trồng các loại rau, màu nhìn chung bảo đảm tiến độ. Tính đến giữa tháng Bảy, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 840,8 nghìn ha ngô, bằng 97% cùng kỳ năm trước; 98 nghìn ha khoai lang, bằng 87,9%; 152,9 nghìn ha đậu tương, bằng 97,6%; 199,9 nghìn ha lạc, bằng 101,9%; 631 nghìn ha rau, đậu, bằng 104,6%.

Chăn nuôi có chiều hướng thuận lợi do dịch bệnh trên vật nuôi cơ bản đã được khống chế và giá bán sản phẩm chăn nuôi đang ở mức cao. Đàn trâu, bò tháng Bảy ước tính xấp xỉ cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm tăng 5-6%; đàn lợn tuy giảm 2-3% nhưng dịch tai xanh đã cơ bản được khống chế; bên cạnh đó, giá tiêu thụ tăng trên thị trường cùng với nhiều giải pháp đang được các địa phương thực hiện nhằm khuyến khích các hộ mạnh dạn đầu tư tái đàn nên chăn nuôi lợn có xu hướng phát triển tốt.

Tính đến ngày 21/7/2011, dịch tai xanh trên lợn và dịch lở mồm, long móng trên gia súc đã được khống chế trong phạm vi cả nước, dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày còn ở 2 tỉnh là Quảng Trị và Phú Thọ.

  Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng Bảy năm 2011

Lâm nghiệp

Trong tháng Bảy, diện tích rừng trồng mới tập trung tại các địa phương ước tính đạt 32,1 nghìn ha; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 16,1 triệu cây; sản lượng gỗ khai thác đạt 342 nghìn m3. Tính chung bảy tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 83,6 nghìn ha, bằng 85,9% cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 124,1 triệu cây, bằng 100,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2349 nghìn m3, tăng 12,6%; sản lượng củi khai thác 16,5 triệu ste, tăng 2,6%.

Thời tiết khô hanh và nắng nóng kéo dài nhiều ngày trong tháng ở khu vực miền Trung và Nam Bộ, đặc biệt ở các tỉnh từ Nghệ An đến Phú Yên đã gây ra tình trạng cháy rừng tại một số địa phương. Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng Bảy là 213,8 ha, bao gồm: Diện tích rừng bị cháy là 180 ha; diện tích bị chặt phá là 33,8 ha. Riêng vụ cháy rừng trồng (chủ yếu là keo và bạch đàn) tại Phú Yên đã làm hơn 100 ha rừng bị thiệt hại. Tính chung bảy tháng, diện tích rừng bị thiệt hại là 1747,8 ha, bao gồm: Diện tích rừng bị cháy là 856 ha; diện tích rừng bị chặt phá là 891,8 ha. Trong kỳ đã xảy ra dịch châu chấu cắn phá rừng thông và phi lao chắn sóng tại Quảng Bình làm thiệt hại 560 ha, các cơ quan chức năng đang phối hợp tìm giải pháp diệt trừ nhằm ngăn chặn dịch lây lan trên diện rộng để bảo vệ rừng.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 7/2011 ước tính đạt 484 nghìn tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá 360 nghìn tấn, tăng 4%; tôm 74 nghìn tấn, tăng 5,4%.

Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tháng Bảy ước tính đạt 303 nghìn tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó cá 220 nghìn tấn, tăng 5%; tôm 65 nghìn tấn, tăng 5,7%. Tôm nuôi tại các địa phương đang trong kỳ thu hoạch vụ chính, trong đó Cà Mau thu hoạch 11 nghìn tấn; Bến Tre 4 nghìn tấn; Bạc Liêu 3,9 nghìn tấn. Nuôi trồng cá tra đang gặp nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ, nguồn vốn và giá bán sản phẩm nên diện tích thả nuôi bị hạn chế: An Giang có 924 ha, xấp xỉ cùng kỳ năm trước; Cần Thơ 647 ha, tăng 1,6%; Đồng Tháp 1425 ha, giảm 2,5%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng Bảy đạt 181 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó khai thác biển đạt 164 nghìn tấn, tăng 2,8%. Thời tiết biển tương đối thuận lợi cho hoạt động đánh bắt thuỷ sản. Nhiều loại cá, mực xuất hiện trên các ngư trường miền Trung và Nam Bộ đã khuyến khích ngư dân ra khơi đánh bắt.

Tính chung bảy tháng năm 2011, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 2995 nghìn tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm sản lượng nuôi trồng đạt 1563 nghìn tấn, tăng 5,1%; sản lượng khai thác đạt 1432 nghìn tấn, tăng 1,5% (khai thác biển đạt 1334 nghìn tấn, tăng 1,6%). Khai thác cá ngừ đại dương được lợi về giá, một số tỉnh đạt sản lượng cao là: Phú Yên 5342 tấn, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước; Bình Định 3761 tấn, tăng 10,6%.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2011 tăng 6,1% so với tháng trước và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2010. Chỉ số sản xuất công nghiệp bảy tháng năm nay tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Công nghiệp khai thác mỏ tăng 1,7%; công nghiệp chế biến tăng 11,9%; sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng 10%.

Một số ngành sản phẩm công nghiệp có chỉ số sản xuất bảy tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất đường tăng 44%; sản xuất đồ gốm, sứ không chịu lửa (trừ gốm sứ dùng trong xây dựng) tăng 35,7%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 24,4%; sản xuất bột thô tăng 20,5%; sản xuất đồ uống không cồn tăng 19,1%; sản xuất giấy nhăn và bao bì tăng 18,7%; sản xuất sợi và dệt vải tăng 18,2%; sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 18,2%; sản xuất bia tăng 15,6%; sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 14,6%; sản xuất sắt, thép tăng 14,3%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 14,2%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 14,2%. Một số ngành sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng khá là: Sản xuất giày dép tăng 13,5%; sản xuất các sản phẩm khác từ plastic tăng 12,3%; sản xuất xi măng tăng 12%; sản xuất gạch, ngói và gốm, sứ xây dựng không chịu lửa tăng 11,2%; sản xuất, tập trung và phân phối điện tăng 10,3%; sản xuất thức ăn gia súc tăng 8,8%. Một số ngành sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng thấp hoặc giảm là: Chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản tăng 8,5%; khai thác, lọc và phân phối nước tăng 6%; khai thác và thu gom than cứng tăng 5,5%; khai thác dầu thô và khí tự nhiên tăng 0,3%; sản xuất xe có động cơ giảm 3,7%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 4,3%; chế biến và bảo quản rau quả giảm 10%; sản xuất cáp điện và dây điện có bọc cách điện giảm 20,4%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sáu tháng đầu năm 2011 tăng 17% so với cùng kỳ năm 2010. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 71,7%; sản xuất đường tăng 49,6%; sản xuất gạch, ngói và gốm, sứ xây dựng không chịu lửa tăng 43%; sản xuất đồ gốm sứ không chịu lửa (trừ gốm sứ xây dựng) tăng 32,6%; sản xuất sơn, véc ni và các chất tương tự tăng 27%; sản xuất xe có động cơ tăng 20%; xay xát, sản xuất bột thô tăng 18,6%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng chậm hoặc giảm là: Sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 16,1%; sản xuất đồ uống không cồn tăng 19,7%; sản xuất sản phẩm bơ sữa tăng 15%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 12,4%; sản xuất sợi và dệt vải tăng 12,3%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 12%; sản xuất giầy dép tăng 11,1%; sản xuất sắt, thép tăng 10,6%; sản xuất xi măng tăng 9,8%; sản xuất thức ăn gia súc tăng 8,1%; sản xuất bia tăng 5,8%; sản xuất bột giấy, giấy và bìa tăng 5,2%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 9,1%; chế biến và bảo quản rau quả giảm 9,5%; sản xuất cáp điện và dây điện có bọc cách điện giảm 14,2%.

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/7/2011 của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, những ngành có chỉ số tồn kho tăng cao là: Sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 92,4%; sản xuất đồ uống không cồn tăng 84,4%; sản xuất cáp điện và dây điện có bọc cách điện tăng 73,5%; sản xuất bia tăng 71,6%; sản xuất giày dép tăng 39,9%; sản xuất thức ăn gia súc tăng 38,4%; sản xuất sợi và dệt vải tăng 33,7%; sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 25,9%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 25%; sản xuất xi măng, vôi, vữa tăng 22,3%; sản xuất các sản phẩm khác từ plastic tăng 21,7%.

Theo kết quả điều tra lao động của 4264 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, số lao động tháng 7/2011 ước tính tăng 0,8% so với tháng Sáu, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,2%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 0,6% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 1,3%. Trong ba ngành công nghiệp cấp I, lao động ngành khai thác giữ ổn định; lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1%; lao động ngành điện, nước giảm 0,5%.

Biến động lao động tại các doanh nghiệp công nghiệp tháng Bảy so với tháng Sáu của một số tỉnh, thành phố có quy mô sản xuất công nghiệp lớn như sau: Số lao động của Bắc Ninh tăng 4,7%; Hải Dương tăng 2,6%; Hải Phòng tăng 1,3%; Đồng Nai tăng 0,8%; Vĩnh Phúc tăng 0,7%; Bình Dương tăng 0,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,4%; Cần Thơ tăng 0,4%; Đà Nẵng tăng 0,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 0,4%.

  Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Bảy và bảy tháng năm 2011

  Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp tháng Bảy và bảy tháng năm 2011

Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Bảy ước tính đạt 17,4 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 4,5 nghìn tỷ đồng; vốn địa phương 12,9 nghìn tỷ đồng. Tính chung bảy tháng năm 2011, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 92,1 nghìn tỷ đồng, bằng 49,4% kế hoạch năm và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2010, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 22,2 nghìn tỷ đồng, bằng 53,1% kế hoạch năm và tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là 2312 tỷ đồng, bằng 63% và tăng 19%; Bộ Công Thương 2011 tỷ đồng, bằng 49,3% và tăng 9,6%; Bộ Y tế 530 tỷ đồng, bằng 58,9% và tăng 6,1%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 496 tỷ đồng, bằng 55,2% và tăng 5,7%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 328 tỷ đồng, bằng 58,8% và tăng 1,9%; Bộ Xây dựng 318 tỷ đồng, bằng 32,4% và giảm 18,4%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 69,9 nghìn tỷ đồng, bằng 48,3% kế hoạch năm và tăng 9% so với cùng kỳ năm 2010. Một số địa phương có khối lượng vốn đầu tư thực hiện lớn là: Hà Nội đạt 9171 tỷ đồng, bằng 45,7% kế hoạch năm và tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2010; thành phố Hồ Chí Minh 7439 tỷ đồng, bằng 52,7% và tăng 8%; Đà Nẵng 4352 tỷ đồng, bằng 76,1% và tăng 4,5%; Quảng Ninh 2353 tỷ đồng, bằng 61,3% và giảm 1,7%; Bà Rịa-Vũng Tàu 1918 tỷ đồng, bằng 59% và tăng 7,6%; Hậu Giang 1631 tỷ đồng, bằng 100% và tăng 6,7%.

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20/7/2011 đạt 9045,4 triệu USD, bằng 75,6% cùng kỳ năm 2010, bao gồm: Vốn đăng ký 7629,9 triệu USD của 504 dự án được cấp phép mới (giảm 27,8% về vốn và giảm 33,9% về số dự án so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung 1415,5 triệu USD của 147 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện bảy tháng năm 2011 ước tính đạt 6,3 tỷ USD, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước.

Trong các ngành kinh tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài bảy tháng năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có số vốn đăng ký lớn nhất với 4253,1 triệu USD, bao gồm 3438,5 triệu USD vốn đăng ký mới và 814,6 triệu USD vốn tăng thêm; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 2524,5 triệu USD; ngành xây dựng đạt 603,9 triệu USD, bao gồm 462,3 triệu USD vốn đăng ký mới và 141,6 triệu USD vốn tăng thêm.

Trong bảy tháng, cả nước có 43 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cấp phép mới, trong đó Hải Dương dẫn đầu về vốn đăng ký với 2472,7 triệu USD, chiếm 32,4% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh 1588,6 triệu USD, chiếm 20,8%; Bà Rịa-Vũng Tàu 478,2 triệu USD, chiếm 6,3%; Tây Ninh 436 triệu USD, chiếm 5,7%; Hà Nội 428 triệu USD, chiếm 5,6%; Ninh Thuận 266 triệu USD, chiếm 3,5%.

Trong số 35 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam bảy tháng năm 2011, Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) là nhà đầu tư lớn nhất với 2794,3 triệu USD, chiếm 36,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 1320,9 triệu USD, chiếm 17,3%; Nhật Bản 540,8 triệu USD, chiếm 7,1%; CHND Trung Hoa 445,3 triệu USD, chiếm 5,8%; Hàn Quốc 404,5 triệu USD, chiếm 5,3%; Ma-lai-xi-a 346,7 triệu USD, chiếm 4,5%.

  Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Bảy và bảy tháng năm 2011

  Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/7/2011

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước bảy tháng năm 2011 ước tính đạt 386,8 nghìn tỷ đồng, bằng 65% dự toán năm, trong đó thu nội địa 237,9 nghìn tỷ đồng, bằng 62,3%; thu từ dầu thô 57,1 nghìn tỷ đồng, bằng 82,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 88,5 nghìn tỷ đồng, bằng 63,8%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 59,5% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 57,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước bằng 61,2%; thuế thu nhập cá nhân bằng 74,4%; thu phí xăng dầu bằng 54,4%; thu phí, lệ phí bằng 49,8%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước bảy tháng ước tính đạt 420,3 nghìn tỷ đồng, bằng 57,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 89,4 nghìn tỷ đồng, bằng 58,8% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 84,9 nghìn tỷ đồng, bằng 58,4%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể 267,2 nghìn tỷ đồng, bằng 60,4%; chi trả nợ và viện trợ 54,8 nghìn tỷ đồng, bằng 63,7%.

Thương mại, giá cả và dịch vụ

Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bảy tháng năm 2011 ước tính đạt 1065,8 nghìn tỷ đồng, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 4,6%. Trong tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bảy tháng năm nay, kinh doanh thương nghiệp đạt 843,4 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú, ăn uống 115,2 nghìn tỷ đồng, tăng 20,9%; dịch vụ 96,5 nghìn tỷ đồng, tăng 23,4%; du lịch 10,7 nghìn tỷ đồng, tăng 16,9%.

  Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Bảy và bảy tháng năm 2011

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Bảy ước tính đạt 8,4 tỷ USD, giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 35,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2011, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 51,5 tỷ USD, tăng 33,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 23,7 tỷ USD, tăng 33,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 27,8 tỷ USD, tăng 33,7%.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu bảy tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, một mặt do lượng xuất khẩu một số mặt hàng tăng như: Cà phê tăng 18%; gạo tăng 9%; sắn và sản phẩm sắn tăng 38,9%; cao su tăng 11,4%; xăng dầu tăng 21,3%. Mặt khác do đơn giá một số mặt hàng tăng như: Giá hạt tiêu tăng 68,5%; giá cao su tăng 59%; giá cà phê tăng 55,7%; giá hạt điều tăng 44,7%; giá dầu thô tăng 44,8%; giá xăng dầu tăng 39,2%; giá sắn và sản phẩm sắn tăng 30,8%; giá sắt thép tăng 19,8%. Kim ngạch xuất khẩu bảy tháng của một số mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Hàng dệt may đạt 7,6 tỷ USD, tăng 29,4%; dầu thô đạt 4,1 tỷ USD, tăng 39,2%; giày dép đạt 3,6 tỷ USD, tăng 30,7%; thủy sản đạt 3,1 tỷ USD, tăng 26,1%; gạo đạt 2,3 tỷ USD, tăng 10,5%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,1 tỷ USD, tăng 13%; cà phê đạt 2 tỷ USD, tăng 83,7%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt 2 tỷ USD, tăng 31%; máy móc thiết bị phụ tùng đạt 2 tỷ, tăng 23,7%; cao su đạt 1,6 tỷ USD, tăng 77,2%; xăng dầu đạt 1,1 tỷ USD, tăng 68,8%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Bảy ước tính đạt 8,6 tỷ USD, giảm nhẹ so với tháng trước và tăng 21,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 58,1 tỷ USD, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm 2010, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 32,7 tỷ USD, tăng 23,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 25,4 tỷ USD, tăng 29,5%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu bảy tháng năm nay của một số mặt hàng phục vụ sản xuất trong nước tăng cao so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 8,3 tỷ USD, tăng 11,1%; xăng dầu 6,2 tỷ USD, tăng 58,5%; vải 4 tỷ USD, tăng 36,9%; sắt thép 3,5 tỷ USD, tăng 7,8%; điện tử, máy tính và linh kiện 3,3 tỷ USD, tăng 26,3%; chất dẻo 2,7 tỷ USD, tăng 29,7%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép 1,8 tỷ USD, tăng 19,8%; hóa chất 1,5 tỷ USD, tăng 36%. Đơn giá nhập khẩu một số mặt hàng tăng cao là một trong những nguyên nhân đẩy kim ngạch nhập khẩu bảy tháng tăng, trong đó giá khí đốt hoá lỏng tăng 25%; giá chất dẻo tăng 19%; giá sợi dệt tăng 34%; giá sắt thép tăng 26%.

Nhập siêu tháng Bảy năm 2011 ước tính đạt 200 triệu USD, bằng 2,4% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Đây là mức nhập siêu thấp nhất từ đầu năm chủ yếu do xuất khẩu vàng. Nhập siêu bảy tháng đầu năm nay là 6,64 tỷ USD, bằng 12,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Nếu loại trừ mặt hàng vàng, nhập siêu bảy tháng ước tính đạt 8,4 tỷ USD, bằng 16,9% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu.

  Hàng hoá xuất khẩu tháng Bảy và bảy tháng năm 2011

  Hàng hoá nhập khẩu tháng Bảy và bảy tháng năm 2011

Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2011 tăng 1,17% so với tháng trước, chủ yếu do tác động của nhóm hàng thực phẩm tăng 3,2% và ăn uống ngoài gia đình tăng 1,78%. Các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp hơn gồm: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,74%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,63%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,61%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,44%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,4%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,36%; giao thông và giáo dục đều tăng 0,26%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá giảm 0,02%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2011 so với tháng 12/2010 tăng 14,61%; so với cùng kỳ năm trước tăng 22,16%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân bảy tháng năm nay so với bình quân cùng kỳ năm 2010 tăng 16,89%.

Chỉ số giá vàng tháng 7/2011 tăng 0,87% so với tháng trước; tăng 6,10% so với tháng 12/2010 và tăng 34,62% so với cùng kỳ năm 2010. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 7/2011 giảm 0,18% so với tháng trước; tăng 0,06% so với tháng 12/2010 và tăng 8,88% so với cùng kỳ năm 2010.

  Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng Bảy năm 2011

Vận tải hành khách và hàng hoá

Vận tải hành khách bảy tháng năm 2011 ước tính đạt 1593,7 triệu lượt khách, tăng 12,9% và 68,5 tỷ lượt khách.km, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách đường bộ ước tính đạt 1463,6 triệu lượt khách, tăng 13,3% và 51,3 tỷ lượt khách.km, tăng 12,3%; đường sông đạt 111 triệu lượt khách, tăng 8,5% và 2,4 tỷ lượt khách.km, tăng 12,7%; đường sắt đạt 7,3 triệu lượt khách, tăng 3,3% và 2,8 tỷ lượt khách.km, tăng 3,9%; đường hàng không đạt 8 triệu lượt khách, tăng 14,6% và 11,8 tỷ lượt khách.km, tăng 10,7%; đường biển 3,9 triệu lượt khách, tăng 3,6% và 239,7 triệu lượt khách.km, tăng 4,8%.

Khối lượng hàng hoá vận chuyển bảy tháng năm nay ước tính đạt 457,7 triệu tấn, tăng 11% và 123,7 tỷ tấn.km, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vận tải trong nước đạt 431,3 triệu tấn, tăng 12,3% và 42,1 tỷ tấn.km, tăng 8,7%; vận tải ngoài nước đạt 26,4 triệu tấn, tăng 2,5% và 81,6 tỷ tấn.km, tăng 2,1%. Vận tải hàng hoá đường bộ bảy tháng ước tính đạt 349,4 triệu tấn, tăng 12,5% và 18,8 tỷ tấn.km, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước; đường sông đạt 72,5 triệu tấn, tăng 8,5% và 9,8 tỷ tấn.km, tăng 8,8%; đường biển đạt 31,4 triệu tấn, tăng 2,8% và 92,5 tỷ tấn.km, tăng 3,1%; đường sắt đạt 4,3 triệu tấn, giảm 5,7% và 2,4 tỷ tấn.km, tăng 5%.

  Vận tải hành khách và hàng hoá bảy tháng năm 2011

Bưu chính, viễn thông

Số thuê bao điện thoại phát triển mới bảy tháng năm 2011 đạt 5,7 triệu thuê bao, giảm 30,9% so với cùng kỳ năm 2010, bao gồm 36,4 nghìn thuê bao cố định, giảm 76,2% và gần 5,7 triệu thuê bao di động, giảm 30,1%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 7/2011 ước tính đạt 128,1 triệu thuê bao, tăng 4,3% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 15,5 triệu thuê bao cố định, tăng 0,4% và 112,6 triệu thuê bao di động, tăng 4,8%.

Số thuê bao internet băng rộng trên cả nước tính đến hết tháng 7/2011 ước tính đạt 4 triệu thuê bao, tăng 19% so với cùng thời điểm năm trước. Số người sử dụng internet tại thời điểm cuối tháng 7/2011 đạt 31,1 triệu người, tăng 24% so với cùng thời điểm năm trước. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông bảy tháng ước tính đạt 84,1 nghìn tỷ đồng, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm 2010.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta bảy tháng năm 2011 ước tính đạt 3425,8 nghìn lượt người, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 2053,4 nghìn lượt người, tăng 11,3%; đến vì công việc 570,3 nghìn lượt người, giảm 2,6%; thăm thân nhân đạt 585,9 nghìn lượt người, tăng 68,7%. Khách quốc tế đến nước ta bằng đường hàng không là 2874,3 nghìn lượt người, tăng 22,6% so với cùng kỳ năm 2010; đến bằng đường biển 22 nghìn lượt người, giảm 21,4%, đến bằng đường bộ 529,5 nghìn lượt người, giảm 3,4%.

Trong bảy tháng năm nay, khách quốc tế đến Việt Nam từ hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Trung Quốc đạt 785,7 nghìn lượt người, tăng 53,5%; Hàn Quốc 300,7 nghìn lượt người, tăng 4%; Hoa Kỳ 273,4 nghìn lượt người, tăng 2,5%; Nhật Bản 268,5 nghìn lượt người, tăng 11,7%; Cam-pu-chia 248,6 nghìn lượt người, tăng 74,2%; Đài Loan 209,8 nghìn lượt người, tăng 5,4%; Ôx-trây-li-a 170,8 nghìn lượt người, tăng 2,3%; Ma-lai-xi-a 137,3 nghìn lượt người, tăng 18,7%; Pháp 122,9 nghìn lượt người, tăng  4,5%; Xin-ga-po 102 nghìn lượt người, tăng 10,6%.

 Khách quốc tế đến Việt Nam tháng Bảy và bảy tháng năm 2011

Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

 Trong tháng 7/2011, cả nước có 20,6 nghìn hộ thiếu đói, giảm 21,6% và 92,8 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 24,1% so với cùng kỳ năm trước. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 16,9 nghìn tấn lương thực và 9,2 tỷ đồng, riêng trong tháng Bảy hỗ trợ 400 tấn lương thực.

Giáo dục

Theo báo cáo kết quả kỳ thi tốt nghiệp năm học 2010-2011, cả nước có 877,8 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, đạt tỷ lệ 95,72% và 119,8 nghìn học sinh tốt nghiệp bổ túc trung học, đạt tỷ lệ 85,35%, mức đạt cao hơn so với các tỷ lệ tương ứng của năm học trước là 92,57% và 66,71%. Vùng Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cao nhất với 98,79% ở khối trung học phổ thông và 99,4% ở khối bổ túc trung học. Trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm nay, cả nước có 52/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trên 90%. Một số địa phương có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông cao là: Nam Định 99,89%, Hưng Yên 99,84%, Ninh Bình 99,79%, Tuyên Quang 99,77%, Thái Bình 99,72%, Hà Nam 99,65%, Bắc Ninh 99,62%. 

Kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm học 2011-2012 có 217 trường đại học, học viện và 130 trường cao đẳng tổ chức thi tuyển cho các khối. Theo thống kê sơ bộ, tổng số thí sinh dự thi của cả ba đợt là 1696,2 nghìn lượt người, tăng 6,7% so với năm học trước, trong đó 699,6 nghìn thí sinh dự thi các trường đại học đợt 1; 633,8 nghìn thí sinh dự thi các trường đại học đợt 2 và 362,8 nghìn thí sinh dự thi các trường cao đẳng đợt 3. Nhìn chung kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm nay được tổ chức nghiêm túc và đúng quy chế, các trường hợp vi phạm được phát hiện và xử lý kịp thời. Số thí sinh bị xử lý do vi phạm trong ba đợt thi là 379 thí sinh, trong đó 281 thí sinh bị đình chỉ thi.

  Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông năm học 2010-2011 phân theo địa phương

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng 7/2011, trên địa bàn cả nước có 5,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (8 trường hợp tử vong); 1,4 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; 74 trường hợp mắc viêm não virút, 32 trường hợp mắc bệnh thương hàn và 2 trường hợp mắc cúm A (H1N1). Tính chung bảy tháng đầu năm nay, cả nước có 22,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (22 trường hợp tử vong); 3,8 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; 455 trường hợp mắc viêm não virút; 196 trường hợp mắc bệnh thương hàn và 500 trường hợp mắc cúm A (H1N1) (13 trường hợp tử vong). Điều đáng lưu ý là bệnh dịch tay, chân, miệng đang có xu hướng bùng phát tại nhiều địa phương, tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam và miền Trung. Từ đầu năm, cả nước có 20,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay, chân, miệng (57 trường hợp tử vong), riêng tháng 7 ghi nhận 9,7 nghìn trường hợp (21 người tử vong).

Số người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn cả nước vẫn gia tăng. Trong tháng đã phát hiện thêm 1,3 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước tính đến giữa tháng 7/2011 lên 241,2 nghìn người, trong đó 97,2 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 50,8 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Tình trạng vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được cải thiện. Trong bảy tháng năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 64 vụ ngộ độc thực phẩm với nhiều vụ ngộ độc tập thể, làm hơn 3,4 nghìn trường hợp bị ngộ độc, trong đó 8 người tử vong. Chỉ riêng trong tháng Bảy đã xảy ra 19 vụ ngộ độc thực phẩm tại 15 tỉnh, thành phố, làm hơn 1 nghìn trường hợp bị ngộ độc.

Tai nạn giao thông

Trong tháng 6/2011 trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1103 vụ tai nạn giao thông, làm chết 920 người và làm bị thương 817 người. So với cùng kỳ năm 2010, số vụ tai nạn giao thông tăng 1,9%, số người chết giảm 1,7% và số người bị thương giảm 5,3%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2011, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 6809 vụ tai nạn giao thông, làm chết 5710 người và làm bị thương 5216 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 1,7%, số người chết tăng 0,8%, số người bị thương tăng 0,1%. Bình quân một ngày trong sáu tháng đầu năm, cả nước có 38 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người và làm bị thương 29 người.

Thiệt hại do thiên tai gây ra

Thiên tai xảy ra trong hai tháng qua gây thiệt hại nặng về người và tài sản, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư của các địa phương. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 55 người chết và mất tích, trong đó bão số 2 làm 42 người chết và mất tích; gần 7 nghìn ngôi nhà bị ngập, tốc mái và cuốn trôi; trên 90,1 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hỏng. Các địa phương bị thiệt hại nặng do thiên tai gây ra là: Thanh Hóa, Nghệ An và Nam Định với tổng số 28 người chết và mất tích; trên 87 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hỏng và 3,7 nghìn ngôi nhà bị ngập, tốc mái và cuốn trôi. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai ước tính 2,2 nghìn tỷ đồng (Nghệ An thiệt hại gần 1,7 nghìn tỷ đồng), riêng bão số 2 làm thiệt hại 2,1 nghìn tỷ đồng. Công tác hỗ trợ khắc phục hậu quả sau thiên tai đã được triển khai kịp thời tại các địa phương nhằm nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống dân cư. Theo báo cáo sơ bộ, tổng số tiền mặt cứu trợ cho các địa phương bị ảnh hưởng thiên tai là gần 43 tỷ đồng.

Nguồn: TỔNG CỤC THỐNG KÊ

In bài
Các tin khác
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2011
Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2011
Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2011
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2011
Tình hình kinh tế - xã hội 2 tháng đầu năm 2011
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 1 năm 2011
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Quyền Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.