Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2009

Tình hình kinh tế xã hội 9 tháng năm 2009
20/08/2010 10:04:00


Tệp đính kèm:

Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2009
_____________
Sau một năm rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chính trầm trọng, đến nay kinh tế của các nước trên thế giới đã có dấu hiệu phục hồi với các mức độ khác nhau. Trong khi tốc độ chuyển biến của nền kinh tế Mỹ còn chậm, dự báo GDP quý III/2009 tăng khoảng 1,6%; dấu hiệu phục hồi của các nền kinh tế Châu Âu chưa rõ nét (dự báo tăng trưởng GDP quý IV/2009 của khu vực đồng tiền chung châu Âu vào khoảng 2%) thì Châu Á đang là điểm sáng trong bức tranh kinh tế tại thời điểm này, trong đó Nhật Bản và Trung Quốc ước tính tăng trưởng 0,9% và 7,9% trong quý II/2009. Tuy nhiên, để giải quyết những vấn đề cốt lõi của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế cũng như những khó khăn, thách thức thời kỳ hậu khủng hoảng đòi hỏi phải có thời gian. Ở trong nước, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các ngành, các cấp triển khai thực hiện đồng bộ Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 và nhiều Nghị quyết quan trọng khác nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát được Quốc hội thông qua trong Nghị quyết số 32/2009/QH12 ngày 19/6/2009 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XII, nên nền kinh tế nước ta đã vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất, kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2009 đạt được kết quả rất đáng khích lệ và tiếp tục có những bước phát triển mới khả quan.
KẾT QUẢ NGĂN CHẶN SUY GIẢM KINH TẾ, DUY TRÌ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HỢP LÝ, BỀN VỮNG
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước quý I/2009 đạt 3,1% so với cùng kỳ năm 2008, là quý có mức tăng thấp nhất trong những năm gần đây, nhưng đến quý II/2009 đã tăng 4,5% và quý III/2009 tăng 5,8%. Tính chung 9 tháng, tổng sản phẩm trong nước tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,6%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,5% (công nghiệp tăng 3,3%, xây dựng tăng cao với 9,7%); khu vực dịch vụ tăng 5,9%.
Mức tăng trưởng kinh tế các quý trong 9 tháng năm nay cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế nước ta ngày càng rõ nét hơn. Kết quả đạt được đánh dấu thành công bước đầu của Chính phủ trong chỉ đạo và điều hành vĩ mô nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm nông nghiệp đạt 106,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3%; lâm nghiệp đạt 5,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8%; thuỷ sản đạt 38,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,3%.
Nông nghiệp
Tính đến trung tuần tháng 9/2009, cả nước đã gieo cấy được 1704,2 nghìn ha lúa mùa, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm các địa phương phía Bắc gieo cấy 123,7 nghìn ha, tăng 2,6%; các địa phương phía Nam gieo cấy 491,6 nghìn ha, tăng 2,4%. Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, cả nước đã thu hoạch được 1,8 triệu ha lúa hè thu, chiếm 76% diện tích gieo cấy, trong đó đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1,5 triệu ha.
Cũng đến thời điểm trên, cả nước đã gieo trồng được 940,6 nghìn ha ngô, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2008; 121,4 nghìn ha khoai lang, giảm 9,7%; 255,6 nghìn ha lạc, tăng 5,2%; 191,5 nghìn ha đậu tương, tăng 4,5% và 665,2 nghìn ha rau, đậu, tăng 0,6%.
Sản lượng lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 11,3 triệu tấn, giảm 116,3 nghìn tấn so với vụ hè thu năm trước do diện tích và năng suất giảm, trong đó diện tích ước tính đạt 2360,4 nghìn ha, giảm 8,3 nghìn ha; năng suất đạt 47,8 tạ/ha, giảm 0,3 tạ/ha.
Diện tích gieo trồng lúa mùa cả nước ước tính đạt 2008,2 nghìn ha, giảm 10,2 nghìn ha do một phần diện tích được chuyển sang gieo cấy lúa hè thu (Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung giảm 14,5 nghìn ha; Đông Nam Bộ giảm 3 nghìn ha; các vùng khác tăng 7,3 nghìn ha). Hiện nay lúa mùa ở các địa phương phía Bắc đang phát triển tốt. Dự kiến sản lượng lúa mùa năm nay của cả nước đạt 9,1 triệu tấn, tăng 62,6 nghìn tấn so với vụ mùa năm trước. Tuy nhiên, hiện nay đã xuất hiện bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An với tổng diện tích bị nhiễm bệnh gần 13 nghìn ha, trong đó Nghệ An bị nặng nhất với 10 nghìn ha; Thái Bình 1,9 nghìn ha; Nam Định 320 ha; Thanh Hoá 561 ha. Diện tích lúa bị nhiễm bệnh nặng là 5,7 nghìn ha (Nghệ An 5,5 nghìn ha, trong đó 3,5 nghìn ha bị mất trắng). Các địa phương cần đề phòng bệnh tiếp tục phát sinh gây hại trên diện rộng. Ước tính cả năm 2009, diện tích gieo cấy lúa đạt 7429,4 nghìn ha, tăng 29,2 nghìn ha so với năm 2008; năng suất đạt 52,6 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha và sản lượng đạt 39 triệu tấn, tăng 316 nghìn tấn.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm tuy gặp khó khăn do dịch bệnh nhưng phạm vi và mức độ ảnh hưởng không lớn nên nhìn chung vẫn phát triển tốt. Đàn trâu được duy trì ổn định; đàn bò ước tính tăng 2-3% so với năm 2008; đàn lợn tăng 3-4%; đàn gia cầm tăng mạnh ở mức 8-9%; sản lượng sản phẩm chăn nuôi tăng 7-8%. Công tác phòng, chống dịch được các địa phương thường xuyên quan tâm nên dịch bệnh trên gia súc, gia cầm cơ bản đã được khống chế. Tính đến ngày 21/9/2009, cả nước không còn ổ dịch cúm gia cầm; dịch bệnh khác chưa qua 21 ngày đang còn xuất hiện ở một số địa phương (Dịch tai xanh trên lợn ở Bạc Liêu; dịch lở mồm long móng trên trâu, bò ở Phú Thọ, Sơn La, Tuyên Quang, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Đắk Nông) nhưng thiệt hại không đáng kể.
Lâm nghiệp
Do thời tiết tương đối thuận lợi nên hoạt động trồng và chăm sóc rừng đạt kết quả khá. Diện tích rừng trồng tập trung của cả nước trong 9 tháng ước tính đạt 158 nghìn ha, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước và trồng được 163 triệu cây lâm nghiệp phân tán, giảm 1,2%; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh đạt 742 nghìn ha, tăng 1,6%; diện tích rừng được chăm sóc 315 nghìn ha, giảm 1,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2581 nghìn m3, tăng 6%. Hiện tượng cháy rừng, chặt phá rừng và khai thác lâm sản trái phép vẫn xảy ra tại một số địa phương. Trong 9 tháng qua, diện tích rừng bị thiệt hại là 3100 ha, tăng 28,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó diện tích rừng bị cháy 1590 ha; diện tích rừng bị chặt phá 1510 ha. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng rừng thiệt hại là do hạn hán đầu năm xảy ra trên diện rộng nên việc kiểm soát gặp nhiều khó khăn và do ý thức bảo vệ rừng của một bộ phận dân cư chưa tốt. Các địa phương có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Hà Giang 381 ha; Yên Bái 201,4 ha; Lạng Sơn 144,8 ha; Sơn La 133,6 ha. Đáng chú ý là hai tỉnh Bình Phước và Lâm Đồng có tỷ lệ diện tích rừng bị chặt phá cao, chiếm tới 60% tổng diện tích rừng bị chặt phá của cả nước.
Thuỷ sản
Sản lượng thủy sản 9 tháng ước tính đạt 3623,3 nghìn tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2755,3 nghìn tấn, tăng 3,7%; tôm đạt 380,4 nghìn tấn, tăng 3,6%.
Thời gian qua, tuy gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ cá tra nhưng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 9 tháng ước tính vẫn đạt 1945,6 nghìn tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2008, chủ yếu do một số địa phương chuyển sang nuôi theo hướng đa canh, đa con, kết hợp trồng lúa và nuôi cá, đồng thời phát triển nuôi cá lồng, bè nên sản lượng cá nuôi đã tăng 1,3%, điển hình là các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Quảng Bình, Quảng Ninh, Thừa Thiên-Huế. Bên cạnh đó, giống tôm thẻ chân trắng cho năng suất cao, khả năng thích nghi với môi trường nước tốt cũng được thả nuôi ở hầu hết các địa phương, đặc biệt phát triển mạnh ở khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung.
Khai thác thuỷ sản có nhiều thuận lợi do ngư dân được Nhà nước hỗ trợ mua và đóng mới tàu, thuyền; bên cạnh đó thời tiết ngư trường tương đối ổn định nên sản lượng thuỷ sản khai thác 9 tháng năm nay ước tính đạt 1677,7 nghìn tấn, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 8 năm trở lại đây.
Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp có chuyển biến tích cực và đạt mức tăng khá. So với cùng kỳ năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 của quý I/2009 chỉ tăng 3,2%, quý II/2009 tăng 7,6% và quý III/2009 đã tăng 8,5%. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9/2009 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 9 tháng năm 2009 tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: khu vực kinh tế Nhà nước tăng 3,1% (Trung ương quản lý tăng 4,8%; địa phương quản lý giảm 2,9%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 8,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7% (dầu mỏ và khí đốt tăng 13,1%, các ngành khác tăng 6,2%).
Giá trị sản xuất của công nghiệp khai thác 9 tháng năm nay ước tính đạt 27,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,8%, chủ yếu do sản lượng dầu thô tiếp tục tăng cao; công nghiệp chế biến đạt 448 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1%; sản xuất và phân phối điện, ga, nước đạt 30,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2%.
Trong 9 tháng năm 2009, sản lượng một số sản phẩm công nghiệp quan trọng có mức tăng cao so với cùng kỳ năm 2008 là: Điều hoà nhiệt độ tăng 48,2%; tủ lạnh, tủ đá tăng 30,9%; xà phòng giặt tăng 21,3%; thép tròn tăng 18,8%; xi măng tăng 18,3%; dầu thô khai thác tăng 17,6%; giày, dép, ủng bằng da giả tăng 16,8%; thuốc lá điếu tăng 13,5%; điện sản xuất tăng 11,3%; nước máy thương phẩm tăng 9,7%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm 2008 như: xe tải giảm 3,1%; thuỷ hải sản chế biến giảm 5,6%; phân hoá học giảm 5,7%; gạch lát ceramic giảm 6,7%; xe chở khách giảm 9,7%; giấy, bìa giảm 13,8%; quần áo người lớn giảm 17,1%; đường kính giảm 21,2%.
Trong các địa phương có qui mô sản xuất công nghiệp lớn, có một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có giá trị sản xuất 9 tháng tăng cao hơn mức tăng chung của cả nước là: Quảng Ninh tăng 13,3%; Thanh Hoá tăng 11,3%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 10,9%; Cần Thơ tăng 9,3%; Khánh Hoà tăng 8,4%; Đồng Nai tăng 8,1%; Bình Dương tăng 7,9%; Hà Nội tăng 7,7%. Một số địa phương khác có giá trị sản xuất 9 tháng tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước là: thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,4%; Đà Nẵng tăng 4,3%; Hải Dương tăng 1,7%; Phú Thọ giảm 0,8%; Vĩnh Phúc giảm 6,2%.
Hoạt động thương mại
Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Thị trường nội địa đang được các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất hàng hoá trong nước tập trung khai thác nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và phát triển sản xuất. Nhiều tỉnh/thành phố lớn đã tổ chức các chương trình khuyến mãi để kích cầu tiêu dùng nên tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2009 ước tính đạt 845,4 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2008. Nếu loại trừ yếu tố giá thì tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 10,2%.
Trong tổng số, kinh doanh thương nghiệp đạt 662,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 78,4% và tăng 19% so với cùng kỳ năm 2008; khách sạn nhà hàng đạt 95,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,3% và tăng 16,3%; dịch vụ đạt 78,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,3% và tăng 19,1%; du lịch đạt 8,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% và tăng 16,6%.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng của hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ước tính đạt 303,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,9% tổng số cả nước, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm Hà Nội đạt 108,2 nghìn tỷ đồng, tăng 18,1%; thành phố Hồ Chí Minh đạt 195 nghìn tỷ đồng, tăng 18,7%.
Hoạt động vận tải hành khách và hàng hoá
Vận chuyển hành khách 9 tháng ước tính đạt 1465,4 triệu lượt khách và 64,1 tỷ lượt khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 8,5% về lượt khách và tăng 4,9% về lượt khách.km, trong đó chủ yếu là vận tải hành khách trong nước với 1462,5 triệu lượt khách và 56,8 tỷ lượt khách.km, tăng 8,6% về lượt khách và tăng 5,9% về lượt khách.km. Vận tải hành khách đường bộ 9 tháng đạt 1322,1 triệu lượt khách và 45,9 tỷ lượt khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,3% về lượt khách và tăng 7,6% về lượt khách.km; đường sông đạt 122 triệu lượt khách và 2,4 tỷ lượt khách.km, tăng 4,3% về lượt khách và tăng 3,1% về lượt khách.km; đường biển đạt 4,4 triệu lượt khách và 277,5 triệu lượt khách.km, tăng 8,3% về lượt khách và tăng 6% về lượt khách.km. Riêng vận tải đường sắt giảm 1,4% về lượt khách vận chuyển và giảm 9% về lượt khách luân chuyển; vận tải đường không tăng 3,5% về lượt khách vận chuyển nhưng giảm 1,8% về lượt khách luân chuyển.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển 9 tháng ước tính đạt 473,9 triệu tấn và 137,5 tỷ tấn.km, tăng 3,2% về tấn và tăng 8,7% về tấn.km so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm vận tải trong nước đạt 453,7 triệu tấn và 49,2 tỷ tấn.km, tăng 3,8% về tấn và tăng 4,5% về tấn.km; vận tải ngoài nước đạt 20,2 triệu tấn và 88,3 tỷ tấn.km, giảm 8% về tấn và tăng 11,6% về tấn.km. Vận tải hàng hoá đường bộ 9 tháng đạt cao nhất với 345 triệu tấn và 17,4 tỷ tấn.km, tăng 5% về tấn và tăng 4,5% về tấn.km so với cùng kỳ năm trước; đường sông đạt 89,5 triệu tấn và 14,3 tỷ tấn.km, tăng 0,8% về tấn và tăng 1,1% về tấn.km; đường biển đạt 33,3 triệu tấn và 102,8 tỷ tấn.km, giảm 2,6% về tấn và tăng 10,3% về tấn.km; đường sắt đạt 6,1 triệu tấn và 2,8 tỷ tấn.km, giảm 6,4% về tấn và giảm 12,6% về tấn.km.
Hoạt động bưu chính, viễn thông
Số thuê bao điện thoại mới trong 9 tháng cả nước ước tính đạt 32,3 triệu thuê bao, tăng 74,1% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm 3,5 triệu thuê bao cố định, tăng 81,7% và 28,8 triệu thuê bao di động, tăng 73,3%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 9/2009 ước tính đạt 113,6 triệu thuê bao, tăng 61,4% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 17,6 triệu thuê bao cố định, tăng 31,6% và 96 triệu thuê bao di động, tăng 68,4%. Số thuê bao điện thoại tính đến tháng 9/2009 của Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông đạt 64 triệu thuê bao, tăng 57,6% so với cùng thời điểm năm 2008, bao gồm 12 triệu thuê bao cố định, tăng 20% và 52 triệu thuê bao di động, tăng 69,9%.
Số thuê bao internet băng rộng trên cả nước tính đến cuối tháng 9/2009 ước tính đạt 2,7 triệu thuê bao, tăng 46,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông đạt 1,8 triệu thuê bao, tăng 63,7%. Số người sử dụng internet trên cả nước tính đến cuối tháng 9/2009 là 22,4 triệu người. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông 9 tháng năm 2009 ước tính đạt 60,5 nghìn tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông đạt 45,4 nghìn tỷ đồng, tăng 29,4%.
Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta 9 tháng ước tính đạt 2773,9 nghìn lượt người, giảm 16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 1662,7 nghìn lượt người, giảm 19,2%; đến vì công việc 523,6 nghìn lượt người, giảm 20,4%; thăm thân nhân đạt 439,1 nghìn lượt người, tăng 6,1%. Khách quốc tế đến nước ta bằng đường hàng không ước tính 2269,3 nghìn lượt người, giảm 10,6%; đến bằng đường biển 57,7 nghìn lượt người, giảm 52,5%; đến bằng đường bộ 446,9 nghìn lượt người, giảm 30,2%.
Lượng khách quốc tế đến nước ta từ Trung Quốc đạt 338,6 nghìn lượt người, giảm 32,3%; Hoa Kỳ 329,2 nghìn lượt người, giảm 0,7%; Hàn Quốc 287,1 nghìn lượt người, giảm 19,9%; Nhật Bản 254,5 nghìn lượt người, giảm 14,6%; Đài Loan 213,2 nghìn lượt người, giảm 13,1%; Ôx-trây-li-a 158,6 nghìn lượt người, giảm 12,3%; Ma-lai-xi-a 120 nghìn lượt người, giảm 5,6%.
KẾT QUẢ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, PHÒNG NGỪA LẠM PHÁT CAO TRỞ LẠI
Vốn đầu tư phát triển
Với mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, trong những tháng vừa qua Chính phủ đã tập trung thực hiện các gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng nên vốn đầu tư của khu vực Nhà nước tăng mạnh. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 9 tháng ước tính đạt 483,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 174,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 36% và tăng 45,5%; vốn khu vực ngoài Nhà nước 189,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,3% và tăng 12,6%; vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài 119,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,7% và giảm 11,2%.
Trong vốn đầu tư khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 9 tháng ước tính đạt 96,5 nghìn tỷ đồng, bằng 67% kế hoạch năm, gồm có:
- Vốn trung ương quản lý đạt 41 nghìn tỷ đồng, bằng 72,4% kế hoạch năm, trong đó: Vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 610 tỷ đồng, bằng 79,4%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 2605,9 tỷ đồng, bằng 88,2%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 412,1 tỷ đồng, bằng 76,5%; Bộ Công Thương 175,8 tỷ đồng, bằng 73,9%; Bộ Y tế 785,6 tỷ đồng, bằng 77,7%; Bộ Giao thông Vận tải 6572,6 tỷ đồng, bằng 68,6%; Bộ Xây dựng 384 tỷ đồng, bằng 43,3%.
- Vốn địa phương quản lý đạt 55,5 nghìn tỷ đồng, bằng 63,5% kế hoạch năm, trong đó một số địa phương có tiến độ thực hiện nhanh là: Thừa Thiên-Huế 993,1 tỷ đồng, bằng 93% kế hoạch năm; Đà Nẵng 2787,7 tỷ đồng, bằng 84,3%; Thái Bình 625,3 tỷ đồng, bằng 80,3%; Nghệ An 1074,1 tỷ đồng, bằng 77,9%; An Giang đạt 617,8 tỷ đồng, bằng 77,2%; Bắc Ninh 928,6 tỷ đồng, bằng 77%; H??i Phòng 1252,3 tỷ đồng, bằng 75,3%.
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 19/9/2009 đạt 12,6 tỷ USD, giảm 78,6% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: Vốn đăng ký mới 7,7 tỷ USD của 583 dự án được cấp phép (giảm 85,7% về vốn và giảm 57,3% về số dự án so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung 4,9 tỷ USD của 168 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt 7,2 tỷ USD, giảm 11,2% so với cùng kỳ năm 2008.
Trong số 43 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có các dự án được cấp phép mới trong 9 tháng, Bà Rịa-Vũng Tàu dẫn đầu với 2852,5 triệu USD, chiếm 37,2% tổng vốn đăng ký của cả nước; tiếp đến là Bình Dương 2124,6 triệu USD, chiếm 27,7%; thành phố Hồ Chí Minh 849,9 triệu USD, chiếm 11,1%; Đồng Nai 232,1 triệu USD, chiếm 3%; Đà Nẵng 149,6 triệu USD, chiếm 1,9%; Hà Nội 142,5 triệu USD, chiếm 1,9%; Bình Thuận 102,8 triệu USD, chiếm 1,3%.Trong tổng vốn đăng ký bổ sung cho các dự án của các địa phương, Bà Rịa-Vũng Tàu dẫn đầu với 3,8 tỷ USD, chiếm 78,3%.
Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng vốn đầu tư cao vào Việt Nam trong 9 tháng là: Samoa dẫn đầu với 1,7 tỷ USD, chiếm 22,2% tổng vốn đăng ký mới; tiếp đến là Đài Loan với 1,3 tỷ USD, chiếm 17,4%; Hàn Quốc 1,3 tỷ USD, chiếm 16,9%; quần đảo Virgin thuộc Anh 1 tỷ USD, chiếm 13,3%; đặc khu HC Hồng Kông (TQ) 732,9 triệu USD, chiếm 9,6%; Liên bang Nga 345,7 triệu USD, chiếm 4,5%; Xin-ga-po 344,5 triệu USD, chiếm 4,5%; Ma-lai-xi-a 143,8 triệu USD, chiếm 1,9%.
Thu hút vốn ODA từ đầu năm đến 21/9/2009 đạt 3236 triệu USD, bao gồm: vốn vay đạt 3122,5 triệu USD; vốn viện trợ không hoàn lại đạt 113,5 triệu USD. Mức giải ngân vốn ODA 9 tháng ước tính đạt 1715 triệu USD, bao gồm: vốn vay đạt 1536 triệu USD; vốn viện trợ không hoàn lại đạt 179 triệu USD, bằng 90% kế hoạch giải ngân của năm 2009.
Thu chi ngân sách Nhà nước
Nguồn thu ngân sách Nhà nước 9 tháng năm nay bị ảnh hưởng do thực hiện miễn, giảm, giãn thuế. Ngoài ra, giá dầu thô trên thế giới trong những tháng đầu năm nay giảm cũng là yếu tố làm giảm thu ngân sách của cả nước. Tuy nhiên, mức chi ngân sách vẫn được duy trì ổn định để bảo đảm mục đích an sinh xã hội và một số nhu cầu cần thiết khác.
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2009 ước tính đạt 274,4 nghìn tỷ đồng, bằng 70,4% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 72,1%; thu từ dầu thô bằng 61,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 71,6%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 80,8%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 60,7%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 67,5%; thuế thu nhập cá nhân bằng 55,6%; thu phí xăng dầu đạt 118,2%; thu phí, lệ phí bằng 62,8%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2009 ước tính 330,2 nghìn tỷ đồng, bằng 67,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 67,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 66%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 69,6%; chi trả nợ và viện trợ bằng 70,7%.
Tín dụng
Theo báo cáo nhanh của các Ngân hàng thương mại và công ty tài chính, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất bằng đồng Việt Nam đến ngày 24/9/2009 đạt 404,3 nghìn tỷ đồng, trong đó nhóm Ngân hàng thương mại Nhà nước và Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương đạt 276,7 nghìn tỷ đồng; nhóm ngân hàng Thương mại cổ phần 100,9 nghìn tỷ đồng; nhóm ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài 20,4 nghìn tỷ đồng; Công ty tài chính 6,3 nghìn tỷ đồng. Trong các đối tượng vay, doanh nghiệp Nhà nước vay 62,2 nghìn tỷ đồng; doanh nghiệp ngoài Nhà nước (Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) vay 273,2 nghìn tỷ đồng; hộ sản xuất vay 68,9 nghìn tỷ đồng.
Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Trong tháng 9/2009, sản xuất hàng hoá trong nước và hoạt động xúc tiến thương mại đã đạt được những kết quả nhất định, thể hiện qua kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tháng 8/2009 giảm 24,8% so với cùng kỳ năm trước, nhưng tháng 9/2009 chỉ giảm 11,3%. Nhiều mặt hàng xuất khẩu tiếp tục duy trì được mức tăng về lượng so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên do ảnh hưởng của giá trên thị trường thế giới giảm nên kim ngạch giảm. Tính chung 9 tháng năm 2009, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 41,7 tỷ USD, giảm 14,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 20,3 tỷ USD, giảm 8,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 16,7 tỷ USD, giảm 6,3%.
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may; điện tử, máy tính; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt xấp xỉ hoặc bằng mức của cùng kỳ năm trước. Nhiều mặt hàng chủ yếu khác có lượng xuất khẩu tăng nhưng do giá giảm dẫn đến kim ngạch giảm là: Dầu thô 9 tháng đạt 4,8 tỷ USD, tăng 8,6% về lượng và giảm 45,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2008; gạo đạt 2,2 tỷ USD, tăng 34,1% về lượng và giảm 7,8% về kim ngạch; cà phê đạt 1,3 tỷ USD, tăng 14,4% về lượng và giảm 19,7% về kim ngạch; than đá đạt 913 triệu USD, tăng 2,4% về lượng và giảm 21,2% về kim ngạch; cao su đạt 734 triệu USD, tăng 7% về lượng và giảm 41% về kim ngạch.
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản 9 tháng đạt 3 tỷ USD, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm 2008; giày dép đạt 3 tỷ USD, giảm 13,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,8 tỷ USD, giảm 14,2%. Nếu tính giá trị xuất khẩu của 8 mặt hàng có lượng (gồm: Hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, than đá, cao su, dầu thô) theo giá bình quân cùng kỳ năm 2008 thì tổng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm nay ở mức 49,7 tỷ USD, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước thay vì giảm 14,3%.
Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu 9 tháng trong tổng kim ngạch xuất khẩu có thay đổi so với cùng kỳ năm 2008, trong đó nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 31,4% xuống 28,5%; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp giảm từ 45,7% xuống 40,6%; nhóm hàng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng từ 22,4% lên 24,5%.
Trong 8 tháng năm 2009, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu sang thị trường Mỹ ước tính đạt 7,2 tỷ USD, giảm 5,9%; tiếp đến là EU đạt 6,2 tỷ USD, giảm 14,6%; ASEAN đạt 5,7 tỷ USD, giảm 24,3%; Nhật Bản đạt 3,9 tỷ USD, giảm 32,1%. Kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng chính sang các thị trường chủ yếu trong 8 tháng như sau: thuỷ sản xuất khẩu sang Nhật Bản ước tính đạt 464 triệu USD, Mỹ đạt 448 triệu USD, Hàn Quốc đạt 189 triệu USD; hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ ước tính đạt 3,3 tỷ USD, Nhật Bản 605 triệu USD, Hàn Quốc 122,9 triệu USD; giày dép xuất khẩu sang Mỹ ước tính đạt 697 triệu USD, Anh đạt 304,9 triệu USD, Pháp đạt 108 triệu USD.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 9/2009 ước tính đạt 6,2 tỷ USD, tăng 6% so với tháng trước và tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 48,3 tỷ USD, giảm 25,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 31 tỷ USD, giảm 28,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 17,3 tỷ USD, giảm 18,9%.
Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 9 tháng giảm một mặt do lượng nhập giảm, mặt khác do giá trên thị trường thế giới giảm, trong đó máy móc thiết bị phụ tùng đạt 8,3 tỷ USD, giảm 15,4% so với cùng kỳ năm trước; xăng dầu đạt 4,5 tỷ USD, giảm 52,6% (lượng giảm 4,4%); sắt thép đạt 3,8 tỷ USD, giảm 35,5% (lượng tăng 1,2%); vải 3 tỷ USD, giảm 8,7%; điện tử máy tính và linh kiện 2,7 tỷ USD, giảm 0,6%; chất dẻo đạt 2 tỷ USD, giảm 13,7% (lượng tăng 25,3%); ôtô 1,8 tỷ USD, giảm 23,9%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 1,4 tỷ USD, giảm 2,9%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 1,4 tỷ USD, giảm 23,7%.
Cơ cấu mặt hàng trong tổng kim ngạch nhập khẩu 9 tháng cũng có sự thay đổi so với cùng kỳ năm 2008, trong đó máy móc thiết bị phụ tùng tăng từ 23,7% lên 28,4%; nguyên nhiên vật liệu giảm từ 65,2% xuống 63,3%; hàng tiêu dùng tăng từ 6,7% lên 8,3%.
Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 8 tháng năm 2009 từ các thị trường chủ yếu đều giảm so với cùng kỳ năm 2008, trong đó nhập từ Trung Quốc đạt 9,7 tỷ USD, giảm 13,1%; từ ASEAN đạt 8,1 tỷ USD, giảm 43,6%; Nhật Bản 4,5 tỷ USD, giảm 19,9%; Hàn Quốc 4,2 tỷ USD, giảm 17,5%; Đài Loan 4 tỷ USD, giảm 34,2%. Kim ngạch nhập khẩu 8 tháng năm 2009 của những mặt hàng chính từ một số thị trường như sau: Máy móc thiết bị nhập từ Trung Quốc ước tính đạt 2,4 tỷ USD, Nhật Bản 1,5 tỷ USD, Hàn Quốc 520 triệu USD; sắt thép nhập từ Nga 1154 nghìn tấn, Nhật Bản 883 nghìn tấn, Đài Loan 823 nghìn tấn, Hàn Quốc 601 nghìn tấn; xăng dầu nhập từ Xin-ga-po 3,4 triệu tấn, Đài Loan 1,7 triệu tấn, Trung Quốc 1,6 triệu tấn, Hàn Quốc 836 nghìn tấn.
Nhập siêu hàng hoá tháng 9 ước tính 1,5 tỷ USD, nhập siêu 9 tháng năm 2009 đạt 6,5 tỷ USD, bằng 15,7% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu và chỉ bằng 41,2% mức nhập siêu cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá tiêu dùng
So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2009 tăng 0,55%; tháng 7/2009 tăng 0,5%; tháng 8/2009 tăng 0,24% và tháng 9/2009 tăng lên 0,62%. Như vậy, chỉ số giá tiêu dùng sau khi giữ được ổn định trong những tháng đầu năm và duy trì được xu hướng tăng giảm dần trong tháng 7 và tháng 8 thì tháng 9 đã tăng khá cao.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2009 tăng 0,62% so với tháng trước, trong đó các nhóm hàng hoá và dịch vụ có chỉ số giá tăng cao hơn mức tăng chung là: Nhóm giáo dục tăng cao nhất với 4,33%; tiếp đến là nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tăng 2,37%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,87%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,75%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,67%. Các nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu khác tăng ở mức thấp gồm: thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,37%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,25%; dược phẩm, y tế tăng 0,19%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,05%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2009 so với tháng 12/2008 tăng 4,11%; so với cùng kỳ năm trước tăng 2,42%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm nay tăng 7,64% so với bình quân 9 tháng năm 2008.
Chỉ số giá vàng tháng 9/2009 tăng 2,04% so với tháng trước; tăng 28,65% so với tháng 12/2008 và tăng 26,06% so với cùng kỳ năm 2008. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2009 giảm 0,23% so với tháng trước; tăng 6,12% so với tháng 12/2008 và tăng 9,08% so với cùng kỳ năm 2008.
Mặc dù xu hướng tăng của giá tiêu dùng chưa có biểu hiện rõ rệt, nhưng một số yếu tố chủ yếu có thể sẽ tác động làm tăng nguy cơ tái lạm phát cao trở lại, đó là: tăng trưởng tín dụng đang ở mức cao do thực hiện các chính sách tài chính, tiền tệ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế; giá của các mặt hàng nước ta nhập khẩu với khối lượng lớn trên thị trường thế giới có khả năng tăng cao do sự phục hồi của kinh tế toàn cầu, đặc biệt giá xăng dầu.
KẾT QUẢ BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI, PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, Y TẾ, VĂN HOÁ VÀ CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI KHÁC
Dân số
Theo kết quả sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số cả nước tại thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là 85,8 triệu người. Tốc độ tăng dân số bình quân thời kỳ 1999-2009 là 1,2%. Trong tổng dân số, dân số thành thị 25,4 triệu người, chiếm 29,6% tổng dân số; dân số nông thôn 60,4 triệu người, chiếm 70,4%; dân số nam 42,5 triệu người; dân số nữ 43,3 triệu người. Tỷ lệ giới tính của dân số năm 2009 ở mức 98,1 nam trên 100 nữ.
Hỗ trợ thiệt hại do thiên tai và bảo đảm đời sống dân cư
Trong 9 tháng, thiên tai xảy ra đã làm 141 người chết và mất tích; 135 người bị thương; 800 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hơn 33 nghìn ngôi nhà bị sạt lở; hơn 100 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập nước, hư hỏng, trong đó trên 13 nghìn ha bị mất trắng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra ước tính 1383 tỷ đồng, trong đó ba tỉnh bị thiệt hại nặng nhất là: Thanh Hoá 265 tỷ đồng; Quảng Trị 227 tỷ đồng; Bắc Kạn 120 tỷ đồng. Để khắc phục hậu quả thiên tai, lãnh đạo các địa phương đã khẩn trương triển khai công tác cứu trợ nhằm nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất của dân cư. Tổng số tiền cứu trợ cho các gia đình bị thiệt hại do thiên tai gây ra trong 9 tháng là 124,9 tỷ đồng và 27,4 nghìn tấn gạo, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 105,5 tỷ.
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu cùng với thiên tai, dịch bệnh, lũ lụt trong nước liên tiếp xảy ra làm cho đời sống dân cư gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với quyết tâm thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành kịp thời triển khai nhiều chương trình, dự án và thực hiện các chính sách hỗ trợ, trong đó có Chương trình 134; Chương trình 135; Chương trình tín dụng cho người nghèo thông qua Ngân hàng chính sách xã hội; Chính sách hỗ trợ sinh viên vay vốn; Chính sách xây dựng nhà ở cho sinh viên, cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo và trẻ em dưới 5 tuổi; tăng mức hỗ trợ và mở rộng đối tượng xã hội được trợ cấp thường xuyên, v.v.
Kết quả thực hiện các chương trình và dự án nêu trên đã góp phần bảo đảm ổn định đời sống dân cư, đặc biệt đối với người nghèo và đồng bào vùng sâu, vùng xa; tình trạng thiếu đói giáp hạt ở khu vực nông thôn nhờ đó đã giảm đáng kể. Theo báo cáo của các địa phương, trong 9 tháng năm 2009, cả nước có 513,6 nghìn lượt hộ thiếu đói với 2250,7 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, so với cùng kỳ năm 2008, số lượt hộ thiếu đói giảm 40,8% và số lượt nhân khẩu thiếu đói giảm 37,6%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành và các tổ chức đoàn thể từ trung ương đến địa phương đã hỗ trợ cho các hộ thiếu đói 33 nghìn tấn lương thực và trên 41 tỷ đồng, riêng trong tháng 9 đã hỗ trợ gần 800 tấn lương thực.
Đời sống của bộ phận những người làm công ăn lương cũng được cải thiện đáng kể, mức lương tối thiểu đã tăng 20%, từ 540 nghìn đồng/tháng lên 650 nghìn đồng/tháng theo Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06/4/2009 của Chính phủ. Cũng theo Nghị định này, trợ cấp hàng tháng của những đối tượng hưởng lương hưu cũng được tăng thêm 5%. Ngoài ra trong 4 tháng đầu năm, những cán bộ viên chức có hệ số lương dưới 3,0 cũng được phụ thêm 90 nghìn đồng mỗi tháng.
Giáo dục, đào tạo
Giáo dục
Kết thúc năm học 2008-2009, cả nước có 765,1 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, đạt 83,8% và 52,8 nghìn học sinh tốt nghiệp bổ túc trung học, đạt 39,6%. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông cao là: Nam Định 98,3%; Hà Nam 97,4%; Thái Bình 96,9%; thành phố Hồ Chí Minh 94,6%; Bắc Ninh 94,1%; Hải Phòng 93,7%; Lâm Đồng 93,4%.
Công tác đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên được tăng cường nên chất lượng giảng dạy trong các trường phổ thông đang từng bước được nâng lên. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn của các cấp năm học 2008-2009 chiếm tỷ lệ cao, trong đó tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn của mẫu giáo chiếm 94,7% tổng số giáo viên mẫu giáo; tiểu học chiếm 98%; trung học cơ sở chiếm 97,5% và trung học phổ thông chiếm 97,8%. Phong trào xây dựng trường chuẩn quốc gia cũng đạt được kết quả quan trọng. Tính đến tháng 8/2009, cả nước có 1644 trường mầm non; 5254 trường tiểu học; 1573 trường trung học cơ sở và 201 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia.
Theo số liệu sơ bộ, đầu năm học 2009-2010, cả nước có 580 nghìn trẻ em được gửi nhà trẻ, tăng 17,2% so với năm học trước; 2890 nghìn trẻ em học mẫu giáo, tăng 4,2%; 6840 nghìn học sinh tiểu học, tăng 1,4%; 5930 nghìn học sinh trung học cơ sở, tăng 7,2% và 3181 nghìn học sinh trung học phổ thông, tăng 6,3%.
Đào tạo
Trong kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng năm 2009, cả nước có 1614,7 nghìn lượt thí sinh dự thi, giảm 3% so với kỳ thi năm 2008, bao gồm 1261,9 nghìn lượt thí sinh dự thi đại học, tăng 1,2% và 352,8 nghìn lượt thí sinh dự thi vào hệ cao đẳng, giảm 15,3%.
Công tác đào tạo nghề đang được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư. Mạng lưới các cơ sở dạy nghề phát triển mạnh ở các địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Tính đến hết tháng 6/2009, cả nước có 102 trường cao đẳng nghề, tăng 10% so với thời điểm cuối năm 2008; 270 trường trung cấp nghề, tăng 8% và 711 trung tâm dạy nghề, tăng 3%. Số học sinh được tuyển mới vào các trường và trung tâm dạy nghề trong 9 tháng năm 2009 ước tính đạt 1645 nghìn lượt người, tăng 7% so với năm 2008, bao gồm 75 nghìn lượt học sinh cao đẳng nghề; 230 nghìn lượt học sinh trung cấp nghề và 1340 nghìn lượt học sinh sơ cấp nghề.
Y tế và chăm sóc sức khoẻ dân cư
Trong 9 tháng, cả nước có 57,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 44 trường hợp đã tử vong; 5 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, tăng 2,6%; 700 trường hợp viêm não vi rút, tăng 27,5%, trong đó 15 trường hợp tử vong; 1,1 nghìn trường hợp mắc bệnh thương hàn, gấp 2 lần và 232 trường hợp viêm màng não do mô cầu, giảm 33,1%.
Công tác kiểm tra, giám sát và tuyên truyền thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng tuy vẫn được triển khai tích cực nhưng tình trạng ngộ độc thực phẩm vẫn xảy ra ở một vài địa phương. Tính chung 9 tháng năm 2009, cả nước có 3,4 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 15 người đã tử vong. Riêng tháng 9/2009 trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 200 trường hợp phải nhập viện.
Dịch cúm A(H1N1) vẫn đang diễn biến phức tạp với tốc độ lây lan nhanh, đặc biệt trong khu vực trường học. Tính đến ngày 28/9/2009, cả nước ghi nhận có 8605 trường hợp dương tính với cúm A (H1N1), trong đó 14 người đã tử vong. Số bệnh nhân đã khỏi và ra viện là 6736 người, các trường hợp còn lại hiện đang được cách ly, điều trị tại các bệnh viện, cơ sở điều trị, giám sát cộng đồng trong tình trạng sức khỏe ổn định.
Số trường hợp nhiễm HIV/AIDS tại các địa phương vẫn tiếp tục gia tăng. Tính từ ca phát hiện đầu tiên cho đến ngày 20/9/2009, trên địa bàn cả nước đã có 197,5 nghìn trường hợp nhiễm HIV/AIDS, trong đó 77,3 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 43,8 nghìn người đã tử vong do AIDS.
Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong 9 tháng năm 2009, ngành Văn hóa Thông tin đã tổ chức các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thông tin, báo chí chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc và các sự kiện trọng đại của đất nước. Trong đó nhiều hoạt động kỷ niệm đã được tổ chức trọng thể và thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân như Lễ kỷ niệm 79 năm thành lập Đảng; Lễ kỷ niệm 55 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ; Lễ kỷ niệm 119 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, v.v.
Công tác thanh tra, kiểm tra và phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai thường xuyên và tích cực tại các địa phương. Theo báo cáo sơ bộ, trong 9 tháng qua, thanh tra toàn ngành đã tiến hành kiểm tra 7,2 nghìn cơ sở kinh doanh và hoạt động dịch vụ văn hoá, kết quả đã phát hiện và xử lý gần 1,5 nghìn cơ sở vi phạm; xử phạt hành chính 6,6 tỷ đồng; đình chỉ hoạt động của 103 cơ sở; tịch thu và tiêu huỷ hàng triệu băng đĩa, văn hóa phẩm có nội dung không lành mạnh.
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng phát triển mạnh ở nhiều nơi trên cả nước. Trong 9 tháng, ngành Thể dục Thể thao đã phối hợp với các ngành liên quan tổ chức thành công 9 giải thể thao dân tộc và thể thao cho mọi nhà; tổ chức hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ VI khu vực 1 và 2 tại hai tỉnh Yên Bái và Ninh Thuận. Bên cạnh đó, ngành Thể dục Thể thao còn tổ chức, tham dự nhiều giải thi đấu quốc tế và đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Tại giải Vovinam thế giới lần thứ nhất tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam giành vị trí nhất toàn đoàn với 23 huy chương vàng, 4 huy chương bạc và 2 huy chương đồng; tại giải Vovinam tiền AIG 3, đoàn thể thao nước ta cũng giành được 4 huy chương vàng, 1 huy chương bạc và 2 huy chương đồng; đặc biệt tại giải Paragames 5 tổ chức tại Ma-lai-xi-a, đoàn thể thao người khuyết tật Việt Nam đã thi đấu xuất sắc, đứng vị trí thứ 3 toàn đoàn với 73 huy chương vàng, 57 huy chương bạc và 45 huy chương đồng.
Trong hoạt động thể thao thành tích cao, ngành Thể dục Thể thao đang khẩn trương thực hiện công tác chuẩn bị để tổ chức Đại hội thể thao Châu Á trong nhà lần thứ 3 trong năm nay tại Việt Nam. Ngoài ra, từ đầu năm ngành Thể dục Thể thao đã tổ chức thành công 16 giải thi đấu thể thao quốc tế trong nước và tuyển chọn vận động viên tham dự 64 giải thi đấu ở nước ngoài với thành tích 508 huy chương các loại, bao gồm 186 huy chương vàng, 145 huy chương bạc và 167 huy chương đồng.
Tai nạn giao thông
Tính chung 8 tháng năm 2009, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 8197 vụ tai nạn giao thông, làm chết 7694 người và làm bị thương 5127 người, trong đó tai nạn giao thông đường bộ chiếm 94% về số vụ; 96% về số người chết và 96% về số người bị thương. So với cùng kỳ năm 2008, số vụ tai nạn giao thông giảm 3,8%; số người chết giảm 0,6% và số người bị thương giảm 7,7%. Bình quân một ngày trong 8 tháng năm 2009, trên địa bàn cả nước xảy ra 34 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người và làm bị thương 21 người.
Khái quát lại, trong bối cảnh khó khăn của khủng hoảng kinh tế thế giới, kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2009 của nước ta vẫn đạt được kết quả tích cực. Các cân đối vĩ mô được duy trì ở mức hợp lý; sản xuất công nghiệp phát triển; sản lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng vẫn giữ được mức tăng khá; công tác an sinh xã hội được tăng cường; củng cố lòng tin của nhân dân. Những kết quả đạt được trong 9 tháng qua thể hiện sự nỗ lực và cố gắng rất lớn của Đảng, Chính phủ, của cộng đồng doanh nghiệp, các tập đoàn và của mỗi người dân; là kết quả của sự thống nhất đồng thuận trong hành động của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương. Trên cơ sở kết quả đã đạt được trong 9 tháng, với những thuận lợi và khó khăn của nền kinh tế từ nay đến cuối năm, có thể dự báo tăng trưởng kinh tế cả năm 2009 đạt 5-5,2%. Để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội cả năm 2009, một số vấn đề chủ yếu sau đây cần được chú trọng trong những tháng tiếp theo:
Một là, khủng hoảng kinh tế thế giới là thời kỳ nền kinh tế trong nước bộc lộ rõ nhất những yếu kém nội tại, đây là thời điểm chúng ta phải chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để nhanh chóng thực hiện cấu trúc lại nền kinh tế trong sự gắn kết chặt chẽ với cấu trúc lại doanh nghiệp. Theo đó, Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho cấu trúc lại doanh nghiệp, đồng thời đẩy nhanh quá trình cải cách thủ tục hành chính liên quan đến phát triển doanh nghiệp.
Hai là, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế theo hướng thực hiện tái cơ cấu vốn đầu tư. Tập trung giải ngân có hiệu quả các nguồn vốn xây dựng cơ bản để bảo đảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, đồng thời vẫn giữ được ổn định kinh tế vĩ mô. Khuyến khích đầu tư áp dụng công nghệ mới và hiện đại vào sản xuất kinh doanh.
Ba là, phải tạo ra sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế thông qua các giải pháp kích cầu với bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô. Theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường thế giới và trong nước, nhất là diễn biến giá cả các mặt hàng quan trọng ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống dân cư (dầu thô, xăng dầu, sắt thép...) để có chính sách phù hợp. Thực hiện điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và thận trọng trên cơ sở các dự báo tốt về diễn biến kinh tế vĩ mô, diễn biến tiền tệ, tín dụng nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán, phòng ngừa lạm phát cao trở lại.
Bốn là, trong bối cảnh tăng trưởng chưa bền vững của kinh tế thế giới, cùng với việc tiếp tục thực hiện chính sách tăng trưởng hướng tới xuất khẩu, trong thời gian tới Chính phủ cần chú trọng chính sách khuyến khích tiêu dùng hàng hoá sản xuất trong nước; lấy thị trường nội địa làm điểm tựa để phát triển. Phấn đấu nâng chất lượng hàng Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế; giữ thương hiệu và uy tín một số hàng hóa chủ lực, sắp xếp lại cơ cấu hàng hóa nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu. Xây dựng chiến lược sản xuất nguyên phụ liệu để làm hàng xuất khẩu và cung ứng cho thị trường nội địa.
Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Chính phủ đến các vùng sâu, vùng xa; triển khai công tác an sinh xã hội cùng với kiểm tra, giám sát chặt chẽ để người dân có điều kiện tiếp cận đầy đủ và kịp thời hơn với những vấn đề liên quan trực tiếp tới sản xuất và đời sống.
Sáu là, đối với khu vực nông thôn phải tập trung nghiên cứu, đề ra các chính sách và giải pháp về dạy nghề cùng với với hỗ trợ tín dụng, giống cây, con, phương tiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm để khuyến khích các hộ gia đình phát triển sản xuất, tạo thu nhập và có cuộc sống ổn định.
Bảy là, tiếp tục kiểm tra, giám sát chặt chẽ các doanh nghiệp thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ nhằm bảo đảm nguồn vốn hỗ trợ được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Đánh giá đầy đủ và toàn bộ những mặt được và chưa được trong việc triển khai thực hiện các chính sách, làm cơ sở cho việc ban hành mới hoặc điều chỉnh chính sách, giải pháp phù hợp nhằm tiếp tục kích thích sản xuất và hạn chế những vấn đề tiêu cực nảy sinh.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Tệp đính kèm:
 
 
In bài
Các tin khác
Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm 2009
Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2009
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2009
Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng năm 2009
Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2009
Đánh giá bổ sung kết quả năm 2008, tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2009 và dự báo thực hiện một số chỉ tiêu năm 2009
Tình hình kinh tế - xã hội 2 tháng đầu năm 2009
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 1 năm 2009
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.