Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2008

Báo cáo tổng kết công tác thông tin và truyền thông năm 2007 và Chương trình công tác năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông
02/08/2010 11:13:00

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
____________
Độc lập Tự do Hạnh phúc
______________________
 
Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2008
BÁO CÁO
Tổng kết công tác thông tin và truyền thông năm 2007
và Chương trình công tác năm 2008
Phần thứ nhất
TỔNG KẾT CÔNG TÁC NĂM 2007
I. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH.
Năm 2007, là năm đầu Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), năm thứ hai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2006-2010 theo Nghị quyết Đại hội X của Đảng, đất nước ta tiếp tục giành được những thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá-xã hội. Vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn dân quan tâm vai trò của thông tin và truyền thông là động lực phát triển kinh tế-xã hội, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; luôn tạo điều kiện để sự nghiệp thông tin và truyền thông phát triển ngày càng lớn mạnh xứng đáng là ngành mũi nhọn, tiên phong của đất nước.
Tháng 8/2007, thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XII, Quyết định số 834/2007/QĐ-CTN ngày 03/8/2007 của Chủ tịch nước, Bộ Thông tin và Truyền thông được thành lập trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của Bộ Bưu chính, Viễn thông tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản từ Bộ Văn hoá-Thông tin. Bộ Thông tin và Truyền thông là Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực với phạm vi hoạt động rộng, vị thế được nâng cao. Trong thời gian ngắn, Ban cán sự Đảng của Bộ đã nhanh chóng tiếp cận công việc, đổi mới trong công tác chỉ đạo, điều hành, đảm bảo sự ổn định, đoàn kết tạo niềm tin để đẩy nhanh tiến độ công việc. Sự quan tâm của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, các địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển thông tin và truyền thông; đất nước càng phát triển, vai trò của thông tin và truyền thông càng được đề cao; vị thế và tiềm lực, truyền thống của Ngành càng được khẳng định. Đó chính là những điều kiện thuận lợi căn bản để ngành Thông tin và Truyền thông chủ động triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng.
Bên cạnh những cơ hội và thuận lợi, ngành Thông tin và Truyền thông cũng gặp không ít khó khăn: Lĩnh vực công nghệ thông tin phát triển nhanh, tư duy quản lý không theo kịp tình hình; quản lý đa ngành đòi hỏi kỹthuật cao, nhưng thu nhập của cán bộ công chức thấp, việc giữ và thu hút nhân tài khó khăn; lĩnh vực báo chí, xuất bản hết sức nhạy cảm, đặt ra cho công tác quản lý những vấn đề mới phức tạp.
Với quyết tâm cao, toàn Ngành đã nỗ lực phấn đấu hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ đặt ra trong năm 2007, tạo thế và lực cao hơn cho năm 2008, tiếp tục đưa sự nghiệp thông tin và truyền thông phát triển nhanh, mạnh và đúng hướng.
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2007.
1. Công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách:
Năm 2007, công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tiếp tục được hoàn thiện. Phát huy định hướng quản lý từ năm 2006, Bộ đã tập trung hoàn thiện các Quy hoạch phát triển CNTT-TT bao gồm phát triển Hạ tầng, Ứng dụng CNTT, Công nghiệp CNTT và phát triển nguồn nhân lực. Tiếp theo Chiến lược phát triển CNTT-TT đến năm 2010, định hướng 2020, Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển Công nghiệp phần mềm Việt Nam đến năm 2010; Chương trình phát triển Công nghiệp nội dung số Việt Nam đến năm 2010 và Kế hoạch tổng thể phát triển Công nghiệp điện tử Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020. Đã ban hành Chỉ thị định hướng phát triển BCVT và CNTT giai đoạn 2011-2020 gọi tắt là Chiến lược cất cánh. Đây là những chính sách định hướng quan trọng chuẩn bị cho Công nghệ thông tin, truyền thông Việt Nam nhanh chóng phát triển và hội nhập khu vực và thế giới.
Bộ đã nghiên cứu xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quy hoạch phát triển CNTT-TT các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung và miền Nam. Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ đã ban hành Quyết định phê duyệt các Quy hoạch trên định hướng mục tiêu, môi trường pháp lý phát triển BCVT và CNTT theo đặc điểm của từng vùng kinh tế trên cả nước. Để đảm bảo nhân lực phục vụ nhu cầu ứng dụng và phát triển CNTT, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và cung cấp nhân lực CNTT cho thị trường lao động quốc tế, Bộ đã nghiên cứu xây dựng Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT Việt Nam đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ủy quyền cho Bộ trưởng ký và ban hành.
Từ nay đến năm 2010, CNTT được coi là động lực hàng đầu trong việc tiếp tục thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cải cách hành chính và chủ động hội nhập quốc tế, Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước là nhiệm vụ quan trọng nhất của Bộ nhằm tác động mạnh mẽ tới mọi người dân. Bộ đã khẩn trương triển khai xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Chương trình Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2007-2010.
Quá trình số hóa các công nghệ truyền dẫn, xu hướng hội tụ công nghệ và dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin và phát thanh truyền hình đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác quản lý. Xuất phát từ thực tế và xu hướng phát triển, Bộ đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Quy hoạch truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020. Quy hoạch sẽ định hướng phát triển toàn diện, đầy đủ trong lĩnh vực truyền dẫn phát sóng cả nước.
Để tạo cơ chế cho lĩnh vực bưu chính tiếp tục phát triển, Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án cung ứng dịch vụ Bưu chính công ích nhằm đảm bảo thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển Bưu chính Việt Nam; minh bạch giữa hoạt động công ích và kinh doanh; thực hiện lộ trình điều chỉnh cước dịch vụ tiến tới chấm dứt bao cấp trực tiếp của nhà nước trong lĩnh vực bưu chính.
Các cơ chế chính sách lớn của Bộ như Quy hoạch phát triển CNTT-TT Việt Nam đến năm 2020; Phát triển phát thanh, truyền hình địa phương đến năm 2010; Đề án tiếp tục thực hiện Thông báo 162 của Bộ Chính trị, Thông báo số 68; Kế hoạch 03 của Ban Bí thư về tăng cường công tác quản lý báo chí trong tình hình mới; Đề án thực hiện Chỉ thị 42 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng toàn diện hoạt động xuất bản; danh mục sản phẩm công ích đối với dịch vụ phát thanh truyền hình trên Internet cho người Việt Nam ở nước ngoài cũng đang được Bộ tích cực hoàn thiện để trình Thủ tướng Chính phủ.
2. Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật:
Năm qua, công tác Pháp chế của Bộ được tăng cường, vì vậy các văn bản trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ đã được rà soát kỹ lưỡng, đạt chất lượng, tạo hành lang pháp lý cho việc thực thi và chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Bộ đạt hiệu quả cao. Được thể hiện như sau:
2.1. Các văn bản trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ:
Tiếp theo Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử được ban hành, 4 Nghị định hướng dẫn Luật bao gồm: Nghị định 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về Xử phạt hành chính trong lĩnh vực CNTT; Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước; Nghị định 71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007 về Công nghiệp CNTT; Nghị định 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Nghị định số 128/2007/NĐ-CP ngày 2/8/2007 về dịch vụ chuyển phát, đó là hành lang pháp lý quan trọng, tạo động lực thúc đẩy CNTT-TT phát triển.
Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp BCVT phát triển, Bộ chủ động nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 39/2007/QĐ-TTg ngày 21/3/2007 về quản lý giá cước dịch vụ bưu chính, viễn thông thay thế Quyết định 217/2003/QĐ-TTg. Qui định quản lý giá cước mới thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, phát huy quyền tự chủ của doanh nghiệp tham gia thị trường; đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ, của doanh nghiệp bưu chính, viễn thông; lợi ích của Nhà nước và chủ quyền quốc gia trong hội nhập quốc tế.
Bộ đã trình Chính phủ phê duyệt ban hành Nghị định 128/2007/NĐ-CP ngày 02/8/2007; ban hành Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng chống thiên tai trên biển; Chỉ thị số 30/2007/CT-TTg ngày 13/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường bảo vệ các tuyến cáp viễn thông ngầm trên biển và đảm bảo an toàn viễn thông quốc tế.
Về Báo chí, Xuất bản: Bộ đã trình Chính phủ ban hành Quyết định số 77/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin trên báo chí; Nghị định số 105/2007/NĐ-CP ngày 21/6/2007 của Chính phủ về in các sản phẩm không phải là xuất bản phẩm.
Bên cạnh các đề án xây dựng văn bản QPPL đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành, năm 2007, Bộ đã nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các đề án: Nghị định của Chính phủ về Internet thay thế Nghị định 55/2001/NĐ-CP, ngày 23/8/2001 của Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet; Nghị định của Chính phủ về hoạt động đầu tư lĩnh vực BCVT và CNTT trong giai đoạn hội nhập WTO; Quy chế quản lý đầu tư đối với các dự án ứng dụng CNTT sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia, Quy chế xây dựng, cập nhật và duy trì cơ sở dữ liệu quốc gia; Quy chế quản lý và triển khai Chương trình phát triển Công nghiệp phần mềm và Chương trình phát triển Công nghiệp nội dung số đến năm 2010.
2.2. Các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ:
Trong năm 2007, Bộ đã ban hành 42 văn bản QPPL bao gồm 29 quyết định, 7 Chỉ thị và 5 Thông tư hướng dẫn. Đã ban hành Quyết định quy định mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với dịch vụ bưu chính, chuyển phát và Thông tư hướng dẫn một số nội dung về dịch vụ do Bưu chính Việt Nam cung ứng; Quy định quản lý thuê bao di động trả trước; Quy định về thi tuyển cấp phép di động 3G; Quyết định tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho hoạt động chuyển phát; Quyết định về quy chế cấp giấy phép hoạt động báo chí bao gồm: Quyết định về việc ban hành quy chế cải chính trên báo chí; Thông tư hướng dẫn cấp, đổi và thu hồi thẻ nhà báo; Thông tư liên tịch hướng dẫn chế độ thù lao đọc xuất bản phẩm lưu chiểu.
Để giải quyết tình trạng một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp CNTT gặp khó khăn khi thực hiện Quyết định 20/2006/QĐ-BBCVT, Bộ đã thành lập đoàn khảo sát thực tế hoạt động nhập khẩu và xây dựng ban hành Quyết định 11/2007/QĐ-BBCVT điều chỉnh danh mục các sản phẩm CNTT đã qua sử dụng cấm nhập khẩu. Triển khai thực hiện Quyết định số 39/2007/QĐ-TTg, Bộ đã nghiên cứu ban hành 3 quyết định điều chỉnh giá cước kết nối giữa các mạng điện thoại cố định và mạng điện thoại di động; giá cước kết nối điện thoại quốc tế chiều về Việt Nam. Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ trưởng đã ban hành Quyết định 16/2007/QĐ-BBCVT ngày 15/6/2007 thành lập Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam.
Nhìn chung, năm 2007, hệ thống văn bản QPPL đã được hoàn thiện một bước. Bộ đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia đầu ngành, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, ý kiến của nhân dân qua website về xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, BCVT và CNTT; đã ban hành kịp thời nhiều quy định cụ thể, giải quyết các vấn đề tồn đọng để phát triển thông tin và truyền thông.
3. Công tác thực thi pháp luật và chỉ đạo điều hành:
3.1. Bưu chính và chuyển phát:
Công tác thực thi quản lý nhà nước và chỉ đạo điều hành về bưu chính và chuyển phát tiếp tục được đẩy mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ bưu chính, chuyển phát phát triển mạnh mẽ, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới trong thời gian qua đã tạo nên hành lang pháp lý đồng bộ cho hoạt động chuyển phát ở Việt Nam, tạo thuận lợi và hỗ trợ tích cực cho dịch vụ chuyển phát góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp.
Bên cạnh công tác xây dựng các cơ chế chính sách phát triển bưu chính, Bộ đã ban hành Chương trình phát hành tem năm 2008, Chương trình đề tài tem ban hành đã lựa chọn được chủ đề tem phù hợp với đường lối chính sách của Đảng, đáp ứng thị hiếu thị trường và thúc đẩy phong trào sưu tập tem Việt Nam; xây dựng kế hoạch xử lý kho tem Ngụy; chỉ đạo xử lý tem hết thời hạn phát hành năm 2006; chỉ đạo xử lý kho tem lưu trữ.
Đã hoàn thiện và chuẩn bị ban hành các Quyết định về Quy chuẩn quốc gia quy định chất lượng dịch vụ bưu chính phổ cập và dịch vụ chuyển phát báo chí công ích: Quyết định về Danh mục các vùng có điều kiện địa lý đặc biệt áp dụng tần suất thu gom và phát tối thiểu 1 lần/tuần.
Phối hợp giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến đổi mới tổ chức doanh nghiệp Bưu chính Việt Nam. Chỉ đạo các doanh nghiệp BCVT đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ các kỳ thi quốc gia; công tác phát hành báo chí phục vụ dân tộc thiểu số và miền núi; nâng cấp Bưu điện Văn hoá xã; an toàn an ninh trong lĩnh vực bưu chính, hải quan, phát hành báo chí; chất lượng dịch vụ bưu chính; mã bưu chính; giải quyết các khiếu nại nghiệp vụ, các vướng mắc về dịch vụ EMS.
Tích cực tham gia các hoạt động về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bưu chính nhằm mở rộng quan hệ nghiệp vụ cũng như học hỏi kinh nghiệm quản lý bưu chính của thế giới; phối hợp chặt chẽ với các tổ chức UPU, APPU cũng như hợp tác song phương với bưu chính các nước.
3.2. Viễn thông, Internet và tần số vô tuyến điện:
Năm 2007, lĩnh vực viễn thông, Internet và tần số vô tuyến điện tiếp tục thực hiện theo hướng mở rộng thị trường, phát huy nội lực, tăng cường năng lực cạnh tranh và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ mới cho các doanh nghiệp. Bộ đã cấp phép cho các doanh nghiệp: VTC và FPT về thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông cố định mặt đất quốc tế và mạng cố định mặt đất đường dài trong nước; FPT về thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông cố định; Hanoi Telecom thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ điện thoại cố định và đường dài quốc tế. Cấp phép cung cấp dịch vụ Internet: 01 IXP (VTC), 8 ISP và 8 OSP cho các doanh nghiệp. Cấp phép tiếp tục thử nghiệm WiMAX cho VNPT, VTC, Vietel, FPT, Vishipel và EVN Telecom. Thực hiện cấp phép sử dụng thiết bị thông tin cho các đoàn ngoại giao, phóng viên, hãng thông tấn nước ngoài, tạm nhập tái xuất thiết bị viễn thông phục vụ triển lãm. Cấp phép thiết lập mạng dùng riêng cho văn phòng SITA, Trung tâm điều độ hệ thống điện Miền Nam.
Quyết định mở rộng mã mạng thông tin di động, mở rộng độ dài số thuê bao cố định tại một số tỉnh. Hoàn thành việc mở rộng độ dài số thuê bao cố định từ 6 ký tự lên 7 ký tự tại các tỉnh Hà Tây, Thanh Hoá, Nam Định, Hải Dương, Kiên Giang, Đà Nẵng. Hoàn thành việc đổi số thuê bao Bộ Ngoại giao từ 199xxxx thành 799xxxx. Hoàn thành việc đổi số dịch vụ báo giờ, thử chuông. Chỉ đạo việc kiểm tra các doanh nghiệp ISP, OSP viễn thông và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến (game online).
Hệ thống các điểm trung chuyển VNIX tiếp tục được nâng cấp mở rộng với lưu lượng Internet trao đổi đạt hơn 9 triệu Gigabyte. Cả 7 doanh nghiệp IXP đã kết nối với VNIX. Các điểm trung chuyển VNIX đã thực hiện tốt chức năng dự phòng ứng cứu lưu lượng trong nước, đặc biệt phát huy hiệu quả trong thời gian xảy ra sự cố cáp quang biển của VNPT.
Trong năm đã triển khai hoàn thiện thay đổi quy trình, thủ tục quản lý, cấp phát tên miền; phân định rõ giữa chức năng quản lý nhà nước với các hoạt động dịch vụ cung cấp tên miền, áp dụng theo mô hình Cơ quan quản lý - Nhà đăng ký tên miền theo hướng xã hội hóa dịch vụ công, một trong những động lực thúc đẩy việc đăng ký, sử dụng tên miền Quốc gia Việt Nam .VN. Toàn bộ gần 12.000 tên miền đã được chuyển đổi sang các nhà đăng ký, hoàn thành theo đúng mục tiêu, tiến độ đề ra. Đây là động lực thúc đẩy số lượng tên miền quốc gia Việt Nam ".VN" đăng ký mới tăng cao trong năm vừa qua.
Trong năm đã triển khai hàng loạt các biện pháp tuyên truyền, phổ biến, đào tạo nghiệp vụ quản lý cấp phát tên miền qua các Nhà đăng ký, thúc đẩy nhu cầu đăng ký, sử dụng tên miền tiếng Việt, ưu tiên cấp phát tên miền tiếng Việt cho các cơ quan đảng, nhà nước và các tổ chức có nhãn hiệu, thương hiệu đã được bảo hộ. Đã triển khai giai đoạn cấp phát tên miền tiếng Việt tự do cho cộng đồng với số lượng hơn 3.500 tên miền.
Triển khai thực hiện các Quy định tại Điều 68 - Luật Công nghệ thông tin đã đưa vào danh sách bảo vệ 4.576 tên miền. Hầu hết các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan trực thuộc Chính phủ, Khối Văn phòng Quốc hội, các Ban của Đảng, các Đoàn thể do Trung ương quản lý và 63/64 tỉnh, thành đã được đưa vào danh sách bảo vệ tên miền .VN. Số lượng tên miền phát triển mới trong năm đạt khoảng 24.000 tên miền, nâng tổng số tên miền .VN hiện có trên toàn mạng lên 54.000 tên miền.
Bên cạnh đó, Bộ đã triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, hợp tác nhằm thúc đẩy việc triển khai sử dụng địa chỉ IPv6 để thay thế dần địa chỉ IPv4 đang dần cạn. Đang chuẩn bị việc kết nối và cấp vùng/địa chỉ IPv6 cho một số doanh nghiệp.
Công tác quản lý tần số VTĐ được thực hiện tốt và hiệu quả. Đã cấp mới và gia hạn gần 11.700 giấy phép cho mạng công cộng và mạng dùng riêng, cấp mới và gia hạn 900 giấy phép cho mạng phát thanh, truyền hình. Kiểm soát, phát hiện và xử lý 500 vụ vi phạm quy chế thông tin; tiếp nhận xử lý 70 vụ can nhiễu. Sửa đổi bổ sung phí sử dụng tần số và lệ phí cấp phép được Bộ Tài chính ban hành trong Quyết định số 61/2007/QĐ-BTC ngày 12/7/2007. Ban hành Chỉ thị 05/2007/CT-BBCVT của Bộ trưởng về tăng cường quản lý thiết bị phát sóng VTĐ trên phương tiện nghề cá, đảm bảo an toàn thông tin VTĐ trên biển. Triển khai tuyên truyền, phổ biến và cấp phép sử dụng tần số máy phát cho phương tiện nghề cá trên diện rộng. Đã hoàn thành việc xây dựng Quy hoạch băng tần cho công nghệ vô tuyến băng rộng tốc độ cao WBA/WiMAX. Phối hợp tần số biên giới Việt Nam - Trung Quốc đạt kết quả khả quan.
3.3. Công nghệ thông tin:
Hướng dẫn và chủ trì tổ chức xem xét và cho ý kiến về Kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2007-2010 của các bộ, ngành, tỉnh, thành theo quy định của Nghị định 64/2007/NĐ-CP. Tổ chức tốt Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 58/CT-TW của Bộ Chính trị vào tháng 6/2007.
Chỉ đạo và phối hợp với Hội Tin học Việt Nam tổ chức các hoạt động, hội nghị, hội thảo về ứng dụng CNTT, trong đó có việc xây dựng ICT index Việt Nam 2005 và 2006; Giải thưởng ICT thắp sáng niềm tin (CNTT vì người tàn tật VN); Phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam triển khai Đề án Ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế". Chủ trì xây dựng và triển khai thỏa thuận hợp tác được ký kết vào tháng 8/2007 giữa Bộ BCVT và Hội Nông dân Việt Nam về thúc đẩy ứng dụng CNTT phục vụ nông thôn, nông nghiệp và nông dân trong giai đoạn tới.
Làm đầu mối thực hiện một số hoạt động hợp tác Quốc tế trong đó có: KADO (Hàn Quốc) về kinh nghiệm phát triển Chính phủ điện tử ở Hàn Quốc; với CICC (Nhật Bản) điều phối và theo dõi triển khai 03 dự án CNTT do Bộ METI hỗ trợ. Phối hợp với JBIC (Nhật Bản) trong triển khai Dự án IFC; với Mircosoft trong triển khai Thoả thuận hợp đồng mua bản quyền phần mềm văn phòng của MS cho các cơ quan Chính phủ.
Trực tiếp triển khai một số dự án về: đào tạo các kỹ năng cao cấp về ứng dụng CNTT cho lãnh đạo và nhà quản lý CNTT và các dự án CNTT; xây dựng hệ thống thông tin phục vụ quản lý nhà nước và thúc đẩy ứng dụng CNTT giai đoạn 2006-2007; xây dựng trung tâm chứng thực số phục vụ quản lý nhà nước về giao dịch điện tử.
Các hoạt động thực thi và chỉ đạo triển khai nghiên cứu, xây dựng và góp ý các chính sách về thuế, nhập khẩu linh kiện máy tính, điện tử; quản lý hàng CNTT; Chính sách thuế cho ngành công nghiệp phần mềm. Xây dựng các chính sách ưu tiên, chính sách hỗ trợ phát triển Công nghiệp CNTT trong Nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư; nghiên cứu, xây dựng và góp ý các chính sách về thuế, nhập khẩu linh kiện máy tính, điện tử; quản lý hàng CNTT đã qua sử dụng và sản phẩm CNTT đã qua tân trang. Triển khai các nội dung: Nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp phần mềm, trao phần thưởng cho các doanh nghiệp CNTT, học bổng cho sinh viên ngành CNTT trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Bộ với tập đoàn Motorola. Làm tốt công tác quản lý Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), Hiệp hội Doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (VINASA) đại diện cho các doanh nghiệp hoạt động về công nghiệp CNTT; hướng dẫn các Sở Bưu chính, Viễn thông các tỉnh, thành phố trong công tác quản lý Nhà nước về CNTT.
3.4. Báo chí:
Công tác quản lý Nhà nước về báo chí được tăng cường hơn trước. Hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước được nâng cao. Hoạt động báo chí ngày càng đi vào nền nếp. Cả nước hiện có 687 cơ quan báo chí với 803 ấn phẩm, gồm 172 báo (Trung ương: 71; địa phương: 101); 448 tạp chí (Trung ương: 352; địa phương: 96); 01 hãng Thông tấn xã Quốc gia; 67 đài phát thanh, truyền hình (Trung ương: 02; địa phương: 65); 01 Đài kỹ thuật số mặt đất; 08 báo điện tử, 135 trang điện tử của các cơ quan báo chí và hàng ngàn trang Web có nội dung cung cấp thông tin. Đến hết năm 2007 đã tiến hành cấp, đổi 15 nghìn thẻ nhà báo thời hạn 2006-2010.
Có văn bản thoả thuận bổ nhiệm 99 trường hợp Tổng biên tập và Phó Tổng Biên tập; cấp giấy phép xuất bản báo chí mới: 3 báo và 22 tạp chí; cấp giấy phép xuất bản bản tin: 39 bản tin; cấp giấy phép xuất bản đặc san: 102; cấp giấy phép tăng trang, tăng kỳ xuất bản: 101; cấp 538 giấy phép thiết lập trang tin điện tử cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (trong đó có 31 giấy phép thiết lập trang tin điện tử của các cơ quan báo chí); cấp 17 Quyết định phê duyệt nội dung kịch bản trò chơi trực tuyến. Căn cứ tình hình thực tế Ngành đã chủ trì cùng với các cơ quan hữu quan tiến hành rà soát, chuẩn bị cho việc sửa đổi Luật Báo chí theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị và Thủ tư­ớng Chính phủ; tổ chức Hội nghị Tổng kết 8 năm Thi hành Luật báo chí nhằm đánh giá những việc làm được, chưa làm được qua 8 năm thi hành Luật, đồng thời kiến nghị đề xuất những nội dung quan tâm trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí sắp tới.
Công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm trong hoạt động báo chí được thực hiện nghiêm túc, đã chuyển Thanh tra Bộ xử lý vi phạm hành chính đối với 35 cơ quan báo chí có vi phạm về nội dung thông tin; đề nghị xử lý hành chính đối với 22 đơn vị vì có hành vi thiết lập trang thông tin trên Internet khi chưa được phép của Bộ Thông tin và Truyền thông; tổng số tiền phạt đối với cơ quan báo chí lên tới 230 triệu đồng. Trong đó, cảnh cáo 03 trường hợp, nhắc nhở, phê bình 210 trường hợp, đình bản tạm thời 02 trang tin điện tử của 2 cơ quan báo chí. Việc khen thưởng các cơ quan báo chí được chú ý hơn trước.
Các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương đã bám sát định hướng chính trị và thực tiễn đời sống kinh tế-xã hội, thông tin kịp thời và đầy đủ những sự kiện thời sự chính trị, kinh tế- xã hội của đất nước và quốc tế, phê phán các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, thực hiện tốt quyền được thông tin của nhân dân, góp phần phát hiện, đề xuất, xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật, vừa là công cụ chỉ đạo, điều hành của các tổ chức Đảng, chính quyền vừa là diễn đàn của nhân dân. Cùng với việc kịp thời phát hiện, biểu dương những gương người tốt việc tốt, những điển hình tiên tiến, báo chí đã thể hiện rõ vai trò là lực lượng xung kích trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực khác, là hạt nhân trong cuộc đấu tranh tư tưởng, chống diễn biến hoà bình và các luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng và Nhà nước. Báo chí đã thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời và góp phần hướng dẫn toàn xã hội trong việc đội mũ bảo hiểm, kiềm chế tai nạn và ùn tắc giao thông, phòng ngừa và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, phản ảnh sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và chính quyền các cấp nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những thiệt hại về người và tài sản do tai nạn, bão, lũ vàdịch bệnh gây ra. Báo chí cả nước đã phát huy đến mức cao nhất lợi thế của mình trong các thời điểm quan trọng khi Việt Nam tổ chức Kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá XI; Bầu cử đại biểu Quốc hội khoá 12; Kỳ họp thứ 1, 2 Quốc hội khoá XII; Kỷ niệm 117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và triển khai cuộc vận động lớn Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM; đặc biệt sự kiện Việt Nam được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, chuyển tải ra thế giới những thông tin sinh động, đa chiều, phản ảnh một cách toàn cảnh và nổi bật hình ảnh đất nước, con người Việt Nam hoà bình, năng động và giàu tiềm năng phát triển.
Công tác thông tin đối ngoại tiếp tục có bước phát triển mới. Duy trì việc xây dựng và phát trên truyền hình (VTV4) các phim chuyên đề phục vụ nhiệm vụ thông tin đối ngoại; sản xuất các sản phẩm như băng hình, tài liệu giới thiệu về đất nước con người; công cuộc đổi mới của Việt Nam ra thế giới. Tiến hành khảo sát các hoạt động thông tin đối ngoại ở địa phương; chỉ đạo hoạt động thông tin báo chí thực hiện đúng quan điểm của Đảng và Chính phủ về nhiệm vụ thông tin đối ngoại trong thời điểm hiện nay.
Các cơ quan thông tin báo chí thuộc Bộ như: Trung tâm thông tin, Báo Bưu điện, Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC, Tạp chí Bưu chính Viễn thông đã đóng góp tích cực, thiết thực thông qua việc tổ chức công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách lớn về bưu chính viễn thông, CNTT và báo chí, xuất bản.
3.5. Xuất bản, In, phát hành:
Hoạt động xuất bản-in-phát hành có nhiều cố gắng, hoàn thành tốt kế hoạch công tác. Tính đến hết 30/11/2006, toàn Ngành đã xuất bản được 19.100 cuốn sách với 244,85 triệu bản, đạt 93,2% về số cuốn, 116% về số bản so với năm 2006; có 19 nhà xuất bản tham gia xuất bản lịch blốc với tổng số l­ượng cả vụ lịch ước đạt 18,5 triệu bản (đến 30/11/2007 đã thống kê lưu chiểu được 12 triệu bản). Lịch tờ và các loại lịch khác ước đạt 09 triệu bản với 605 mẫu. Tranh, ảnh, bản đồ, đĩa CD, VCD, DVD, CP-ROM: 66 loại với 122.000 bản. Về xuất bản lịch blốc 2008, đây là năm thứ hai thực hiện xuất bản lịch theo cơ chế mới, các nhà xuất bản đã chủ động hơn trong việc tìm kiếm đối tác liên kết in, phát hành; mẫu mã, chủng loại lịch phong phú, đa dạng; những sai phạm về thông tin trên lịch đã được khắc phục. Dư luận xã hội đã có những đánh giá tích cực về chất lượng và giá cả của lịch blốc 2008.
Lĩnh vực in: Tính đến nay cả nước có khoảng 1200 cơ sở in, hoạt động theo các mô hình: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, cơ sở in nội bộ, cơ sở in phụ thuộc, doanh nghiệp in tư nhân và doanh nghiệp in có vốn nước ngoài; trong đó tỷ lệ doanh nghiệp in tư nhân và doanh nghiệp in có vốn nước ngoài chiếm gần 60% tổng số các cơ sở in. Lĩnh vực in tiếp tục giữ được mức độ tăng trư­ởng khá ổn định, ước tính khoảng 650 tỷ trang in 13x19cm (đạt 112% so với năm 2006).
Lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm:Đang đứng trước những thách thức, khó khăn không nhỏ trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường. Các Công ty phát hành sách các tỉnh, thành phố thư­ờng xuyên tổ chức các đợt phát hành sách để chào mừng các ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn của đất nư­ớc; một số công ty tiếp tục triển khai đầu tư­ phát triển mạng lư­ới bán hàng, khai trư­ơng nhà sách tại các địa phương. Tuy nhiên, một số đơn vị phát hành sách, nhất là ở các địa bàn thuộc các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn.
Qua kiểm tra lưu chiểu đã phát hiện đ­ược 32 cuốn không có đăng ký kế hoạch xuất bản, 74 cuốn sai tên so với đăng ký, 23 cuốn sai tên tác giả, 15 cuốn không có số đăng ký, 2393 cuốn không thực hiện đăng ký lại kế hoạch xuất bản khi chuyển từ năm 2005, 2006 sang năm 2007. Đọc kiểm tra nội dung xuất bản phẩm lưu chiểu được 1.148 cuốn, trong đó bộ phận chuyên viên đọc kiểm tra 650 cuốn, tổ cộng tác viên đọc kiểm tra 498 cuốn.
Nhiều đơn vị phát hành xuất bản phẩm đã phát động các đợt thi đua nước rút, chào mừng các ngày lễ lớn, các sự kiện quan trọng trong năm 2007, như: Ngày thành lập Đảng (3/2); ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; Quốc tế Lao động (1/5); Quốc khánh 2/9; ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XII (20/5); 60 năm ngày thư­ơng binh liệt sỹ. Đặc biệt nhân dịp kỷ niệm 90 năm Cách mạng Tháng M­ười Nga, hơn 700 cuốn sách đã được trưng bày giới thiệu về Cách mạng Tháng Mư­ời Nga và Cách mạng Việt Nam, về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, cùng nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng và ấn phẩm báo chí bằng tiếng Nga. Tổ chức và tham gia Triển lãm-Hội chợ Sách quốc tế Việt Nam lần thứ II cùng nhiều hoạt động có ý nghĩa chào mừng 55 năm ngày truyền thống ngành Xuất bản, In, Phát hành sách Việt Nam với mục đích trọng tâm h­ướng xã hội tới việc tôn vinh văn hoá đọc, theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.
3.6. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo:
Công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động thông tin và truyền thông trên phạm vi cả nước được tăng cường, đạt hiệu quả tốt. Các hệ thống văn bản quản lý nhà nước ngày càng được hoàn thiện, nhiều Nghị định hướng dẫn thi hành, nhất là các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin; chương trình thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính của Nghị định hướng dẫn Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Quyết định ban hành danh mục các mẫu văn bản trong hoạt động thanh tra và xử lý vi phạm hành chính về bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin... Trong năm, đã tiến hành thanh tra 11 cuộc (theo kế hoạch 07 cuộc, đột xuất 04 cuộc), phát hiện một số tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật gây thất thoát cho Nhà nước 1.742.000.000đ, đã thu hồi nộp ngân sách nhà nước 1.107.572.469đ (đạt tỷ lệ 63%), xử phạt hành chính 192.000.000đ. Thanh tra Cục Quản lý chất lượng BCVT&CNTT tiến hành thanh tra về chất lượng sản phẩm viễn thông tại 25 doanh nghiệp; ban hành 10 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền phạt là 91.500.000 đồng. Thanh tra Cục Cục Tần số vô tuyến điện đã tiến hành thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch 374 tổ chức (giảm 217 tổ chức so với năm 2006), thanh tra đột xuất 288 tổ chức (giảm 118 tổ chức so với năm 2006), lập biên bản và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 112 tổ chức với tổng số tiền phạt là 36.350.000 đồng.
Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo: Năm 2007, đã tiếp 196 lượt công dân (tăng 23 lượt so với cùng kỳ); các tổ chức Thanh tra tiếp nhận 211 đơn khiếu nại (tăng 68 đơn so với cùng kỳ); tiếp nhận 37 đơn tố cáo (tăng 17 đơn so với cùng kỳ); tiếp nhận 94 đơn thư kiến nghị, phản ánh về cơ chế chính sách, các vi phạm trong lĩnh vực Bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin.
Công tác phòng, chống tham nhũng: Bộ đã chủ động hướng dẫn các cơ quan, đơn vị thực hiện Chương trình hành động của Bộ về phòng, chống tham nhũng; thường xuyên rà soát cơ chế chính sách có liên quan đến hành chính công, đặc biệt một số đơn vị liên quan đến công tác cấp phép, thu phí, lệ phí. Thanh tra các Cục quản lý chuyên ngành đã thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong công tác xây dựng hoặc phối hợp xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quản lý tài sản trong đơn vị, quy tắc ứng xử của cán bộ công chức.
3.7. Hợp tác quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế:
Hợp tác quốc tế giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới trên tất cả các lĩnh vực bưu chính, viễn thông, CNTT, báo chí và xuất bản tiếp tục được mở rộng và củng cố. Bộ đã chủ động triển khai các Thoả thuận quốc tế đã ký kết, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức làm việc với các đoàn đến thăm và làm việc tại Việt Nam theo hướng gắn chặt hơn với nhu cầu thực tế, tổ chức nhiều đoàn tham gia hoạt động đối ngoại cấp Bộ, đặc biệt là Đoàn Bộ trưởng tham dự Hội nghị Thượng đỉnh toàn cầu về CNTT về Dịch vụ hành chính công; các đoàn trao đổi cấp Thứ trưởng với Trung Quốc về công tác báo chí; với Hàn Quốc, Nhật Bản... về chính sách quản lý và pháp luật phục vụ cho việc xây dựng các dự thảo Luật của Bộ.
Các hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại được chú trọng nhằm tập trung khai thác tốt nguồn lực quốc tế, thu hút đầu tư và sự hỗ trợ thiết thực của các tập đoàn lớn về viễn thông và công nghệ thông tin, phục vụ cho các hoạt động quản lý nhà nước, đào tạo nguồn nhân lực thông qua các hoạt động như tổ chức nhiều diễn đàn, hội nghị hội thảo chuyên đề về CNTT (Diễn đàn thúc đẩy phát triển và ứng dụng CNTT Việt Nam VFIP 3), các Hội thảo Chuẩn và tính tương thích, Gia công phần mềm Việt Nam, Hội thảo về đầu tư, về cấp phép, cổ phần hoáViệc ký thỏa thuận hợp tác Nhà nước - Doanh nghiệp và Hợp đồng nguyên tắc mua bản quyền phần mềm văn phòng của Microsoft đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư và thương mại về CNTT.
Sự tham gia đóng góp tích cực của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế chuyên ngành tiếp tục góp phần tăng cường vai trò và vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế; tham gia Hội nghị thông tin vô tuyến thế giới WRC07; các kỳ họp Hội đồng Điều hành (CA), Hội đồng Khai thác Bưu chính (POC) UPU, Hội đồng chấp hành (EC) APPU, Hội đồng Điều hành APT; Hội nghị quốc tế về Chiến lược Bưu chính Thế giới; tham gia sâu và có nhiều đề xuất, đóng góp về nội dung trong các Nhóm dự án, Nhóm nghiên cứu của ITU, UPU, APT và APPU... Bộ đã tranh thủ được nhiều đợt chuyên gia của các Tổ chức quốc tế lớn về BCVT và CNTT vào làm việc để hỗ trợ cho việc đổi mới và xây dựng chính sách quản lý và phát triển của ngành, đặc biệt là chuyên gia ITU, UPU về BCVT và CNTT vào hỗ trợ việc xây dựng các Luật chuyên ngành về BCVT và CNTT.
Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam là thành viên WTO, Bộ đã tiến hành nhiều hoạt động hoàn thiện môi trường pháp lý cho phù hợp cam kết gia nhập, chỉ đạo và hướng dẫn các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và nắm bắt kịp thời những cơ hội hội nhập. Bộ cũng tiếp tục nghiên cứu phương án đàm phán các Hiệp định khu vực thương mại tự do (FTA), đàm phán dịch vụ trong ASEAN và vòng đàm phán Doha để chuẩn bị cho những bước hội nhập sâu rộng hơn trong tương lai.
Hoạt động hợp tác quốc tế đã phục vụ đắc lực cho công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của Bộ (đã tổ chức gần 150 khóa đào tạo, hội thảo quốc tế với hơn 300 lượt người tham dự). Đặc biệt việc Trường Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt-Hàn đi vào hoạt động, các dự án IFC, hỗ trợ kỹ thuật của KADO Hàn Quốc, JICA của Nhật Bản góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành CNTT.
3.8. Kế hoạch, tài chính, đầu tư xây dựng cơ bản và giá cước:
Bộ đã tích cực chủ động chỉ đạo triển khai hướng dẫn thực hiện chương trình viễn thông, bưu chính công ích; hướng dẫn thực hiện bộ đơn giá XDCB chuyên ngành BCVT, quy định mới về quản lý giá cước BCVT; phân cấp quản lý đầu tư trong Bộ. Xây dựng văn bản hướng dẫn việc lập, thẩm định và trình phê duyệt các dự án về CNTT.
Bộ đã nhanh chóng triển khai giao kế hoạch 2007 cho các đơn vị đã thực hiện tốt ngay từ đầu năm, tập trung chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch thu chi ngân sách và đầu tư 2007 đảm bảo về nguyên tắc, tiến độ, thủ tục đúng theo các quy định, tăng cường công tác kiểm tra quyết toán ngân sách chi thường xuyên, chi khoa học công nghệ, các chi khác của từng đơn vị. Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị rà soát, quản lý tài sản công theo đúng quy định của Chính phủ, Bộ Tài chính và Bộ Xây dựng.
Tập trung chỉ đạo, đôn đốc tiến độ triển khai các dự án trọng điểm: Dự án Vinasat (dự án hiện đang trong giai đoạn hoàn thành, theo tính toán mới nhất của nhà thầu, vệ tinh sẽ hoàn thành vào tháng 2/2008 và thời gian phóng dự kiến vào cuối tháng 3/2008); dự án phát triển CNTT và TT tại Việt Nam sử dụng nguồn vốn vay của Ngân hành thế giới WB (Bộ TT và TT là Ban điều phối dự án, hiện đang triển khai tiến hành tập trung kiện toàn bộ máy quản lý thông qua việc triển khai các gói thầu tuyển chọn tư vấn quản lý dự án và xây dựng các quy trình, thủ tục cho dự án); ngoài ra tập trung chỉ đạo các dự án trọng điểm khác như: Mạng viễn thông 10 tỉnh miền Trung; cáp quang biển Bắc-Nam; Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin hữu nghị Việt-Hàn. Tăng cường công tác thẩm định đảm bảo chất lượng, đảm bảo thực hiện đúng các thủ tục, chính sách đầu tư, các quy chế, quy định của pháp luật trong việc quản lý đầu tư xây dựng chuyên ngành BCVT để kịp thời phát hiện những sai sót nhằm tháo gỡ và ngăn chặn kịp thời các sai phạm, tập trung chỉ đạo đẩy mạnh việc xây dựng các cơ chế, chính sách, kế hoạch về dịch vụ công ích trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông; đảm bảo đúng định hướng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Việc giao ban đầu tư XDCB của Bộ được duy trì thường xuyên để chỉ đạo các đơn vị khẩn trương triển khai, đảm bảo tiến độ và hoàn thành kế hoạch được giao.
Bộ tập trung triển khai thực hiện hỗ trợ kinh phí duy trì và phát triển dịch vụ viễn thông công ích năm 2005, 2006; triển khai thực hiện kế hoạch hỗ trợ năm 2007, phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện theo quy định hiện hành; hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của Quỹ dịch vụ VTCI Việt Nam.
Công tác cổ phần hoá các doanh nghiệp được đẩy mạnh, đã ban hành Quyết định xác định giá trị doanh nghiệp lần 2 đối với 22 đơn vị của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã cổ phần hoá để bàn giao sang Công ty cổ phần; ban hành các Quyết định cổ phần hoá cho 03 đơn vị trực thuộc Tổng công ty VTC. Tích cực chỉ đạo việc tiến hành cổ phần hoá Công ty thông tin di động VMS.
Đã tập trung chỉ đạo hoàn thành việc xây dựng và bảo vệ kế hoạch thu, chi ngân sách và đầu tư năm 2008 của Bộ (kể cả phần bổ sung của Cục Báo chí và Cục Xuất bản); đảm bảo hoàn thành việc giao và phân bổ kinh phí ngân sách năm 2008 cho các đơn vị theo đúng quy định của Luật ngân sách.
Chỉ đạo các đơn vị phối hợp và tạo điều kiện cho Đoàn Kiểm toán Nhà nước hoàn thành việc kiểm toán năm 2006. Kết quả kiểm toán cho thấy về cơ bản Bộ đã thực hiện tốt các quy định của nhà nước, không để xảy ra sai phạm, thất thoát, lãng phí.
3.9. Khoa học công nghệ và tiêu chuẩn chất lượng:
Bộ đã hoàn thành nghiệm thu các đề tài KHCN cấp Bộ năm 2006; Rà soát các kết quả đề tài nghiên cứu KHCN năm 2006, triển khai và hoàn thiện thủ tục giao các đề tài KHCN cấp Bộ năm 2007 cho các đơn vị. Tham gia tổ chức và chỉ đạo Chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KC.01 Nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT&TT giai đoạn 2006-2010; hướng dẫn các đơn vị trong ngành thực hiện các chính sách KHCN mới; tổ chức Hội thảo chuyên đề CNTT và TT phục vụ nông thôn nằm trong chương trình hoạt động của Hội đồng KHCN Bộ; Hoàn thành việc xác nhận tính đồng bộ cho trên 130 bộ hồ sơ thiết bị chuyên ngành nhập khẩu; Đề xuất đề tài nghiên cứu KHCN trong chương trình nghiên cứu vũ trụ, hoàn thành việc rà soát toàn bộ các TCN của Bộ, định hướng sửa đổi, chuyển sang tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc huỷ bỏ.
Chủ động nghiên cứu các định hướng tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực chuyên ngành phù hợp với hành lang pháp lý mới và phù hợp với giai đoạn hội nhập. Trong năm 2007 đã cụ thể hóa và giao 33 đề tài trong lĩnh vực tiêu chuẩn, chất lượng cho các đơn vị, tập trung vào các đề tài xây dựng tiêu chuẩn phục vụ triển khai dịch vụ chứng thực chữ ký số, tiêu chuẩn an toàn thông tin, tiêu chuẩn khung tương hợp chính phủ điện tử rà soát, chuyển đổi các tiêu chuẩn Ngành thành Tiêu chuẩn Việt Nam/Quy chuẩn Việt Nam phù hợp Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.
Bộ đã công bố công khai chất lượng các dịch vụ viễn thông, internet của doanh nghiệp, các báo cáo về chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp, đặc biệt là kết quả kiểm tra chất lượng dịch vụ (di động, internet ADSL quý II, III/2008).
Chủ động giải quyết các vấn đề liên quan đến triển khai các trạm thu phát sóng thông tin di động (vấn đề thực thi kiểm định công trình viễn thông, vấn đề ảnh hưởng của sóng điện từ của các trạm BTS tới sức khoẻ con người).
3.10. Tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ:
Kịp thời trình Chính phủ dự thảo Nghị định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ trên tinh thần đảm bảo đúng nguyên tắc về quản lý nhà nước, đảm bảo các mục tiêu trước mắt cũng như phát triển lâu dài; rà soát và hoàn thiện chức năng nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Bộ nhằm đáp ứng các yêu cầu về công tác quản lý nhà nước trong tình hình mới; tiếp nhận về tổ chức và cán bộ đối với Cục Báo chí, Cục xuất bản từ Bộ Văn hoá-Thông tin về Bộ Thông tin và Truyền thông; phê duyệt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ cấu tổ chức của Viện Công nghiệp phần mềm & Nội dung số VN sau khi có Quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng, thẩm định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ; kiện toàn tổ chức Công đoàn của Bộ cho phù hợp với yêu cầu mới.
Hoàn thiện quy trình bổ nhiệm cho 01 cán bộ vào ngạch thanh tra viên, 01 cán bộ vào ngạch Thanh tra viên chính và 14 cán bộ công chức vào ngạch chuyên viên chính; hoàn thành thủ tục cử cán bộ dự thi chuyển ngạch chuyên viên lên chuyên viên chính cho 19 cán bộ công chức và chuyên viên chính lên chuyên viên cao cấp cho 05 cán bộ; giao biên chế năm 2007 cho các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ.
Thực hiện nghiêm túc và khoa học đối với việc cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước và nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn tài trợ khác theo kế hoạch đào tạo bồi dưỡng năm 2007. Quản lý, theo dõi chặt chẽ cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo dài hạn, ngắn hạn ở trong nước và nước ngoài. Năm 2007, số cán bộ tham gia lớp Cao cấp Lý luận chính trị: 25 người; cử đi đào tạo Tiến sỹ: 03 người, Thạc sỹ: 06 người; bồi dưỡng về kiến thức Quản lý nhà nước: 51người; số cán bộ cử đi bồi dưỡng về nghiệp vụ 01 người; số cán bộ cử đi bồi dưỡng ở nước ngoài gồm hội thảo, bồi dưỡng, thực tập: 400 người; số cán bộ tham gia các khoá đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ trong và ngoài nước: 335 lượt người. Tổ chức xây dựng chương trình và triển khai đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý nhà nước chuyên ngành BCVT và CNTT với 8 lớp học cho hơn 600 cán bộ, công chức của 64 Sở Bưu chính Viễn thông. Các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức về bảo hiểm xã hội, nghỉ hưu, thôi việc... đã thực hiện tốt, đúng quy định.
3. 11. Công tác Văn phòng, Thi đua khen thưởng và lịch sử truyền thống:
Hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ trong công tác phục vụ các hoạt động của lãnh đạo Bộ, của các cơ quan tham mưu, phối hợp các đơn vị thuộc Bộ tổ chức và triển khai tổ chức tốt các cuộc họp thường kỳ, hội nghị, mít tinh diễn ra tại Bộ. Đôn đốc các cơ quan, đơn vị thực hiện có hiệu quả Chương trình công tác của Bộ năm 2007. Thực hiện nghiêm túc Chương trình cải cách hành chính của Bộ. Chủ động phối hợp với các đơn vị có liên quan triển khai thực hiện dự án xây dựng trụ sở của Bộ. Triển khai thực hiện việc gửi và nhận báo cáo, lịch tuần và giấy mời họp trên hệ thống thư điện tử nội bộ. Đã chuẩn bị tốt nội dung để Lãnh đạo Bộ trả lời trực tuyến, chủ trì tổ chức việc đề xuất lựa chọn 10 sự kiện nổi bật của Ngành năm 2007; đặc biệt chuẩn bị tổ chức tốt Tổng kết năm 2007 và triển khai chương trình công tác năm 2008 của Bộ.
Đại diện Văn phòng Bộ khu vực miền Nam và miền Trung -Tây Nguyên mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và biên chế, song đã nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Thông qua các hội nghị, hội thảo và tiếp xúc trao đổi công việc, đã nắm bắt, tổng hợp thông tin về công tác QLNN tại khu vực và kịp thời tham mưu, phản ánh cho Lãnh đạo Bộ và các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ.
Ngành Thông tin và Truyền thông đã thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác Thi đua-Khen thưởng; nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 17/2006/CT-TTg ngày 8/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị liên tịch số 06/CTLT-BBCVT-CĐBĐ ngày 8/5/2006 của Bộ trưởng và Chủ tịch Công đoàn Bưu điện Việt Nam về việc phát động thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X; Chỉ thị 01/CT-BBCVT ngày 19/01/2007 của Bộ trưởng về công tác thi đua, khen thưởng năm 2007; xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp triển khai công tác TĐKT, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra. Chỉ đạo phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng các sự kiện chính trị của đất nước; hướng dẫn các đơn vị đăng ký, tổ chức các phong trào thi đua với nhiều nội dung cụ thể phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị và phong trào thi đua chung của cả nước.
Công tác khen thưởng đã triển khai có hiệu quả. Khen thưởng gắn liền với các phong trào thi đua; dựa trên kết quả của phong trào thi đua, bám sát với Luật TĐKT, Nghị định và các văn bản hướng dẫn của Trung ương và của Bộ để bình xét, đề nghị khen thưởng khách quan, công bằng, công khai, dân chủ, đảm bảo khen thưởng đúng đối tượng, thành tích. Những tập thể, cá nhân được khen thưởng đều phát huy được tác dụng nêu gương cho tập thể, cá nhân học tập.
Năm 2007, Bộ đã trình các cấp có thẩm quyền khen thưởng: 01 Huân chương Lao động hạng Nhất, 01 Huân chương Lao động hạng Nhì, 15 Huân chương Lao động hạng Ba, 15 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Đang trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước khen thưởng thành tích toàn diện: Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho 2 tập thể, Huân chương Độc lập hạng Nhì cho 1 tập thể, Huân chương Lao động hạng Nhất cho 1 cá nhân, Huân chương Lao động hạng Nhì cho 1 cá nhân, Huân chương Lao động hạng Ba cho 4 cá nhân, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho 2 tập thể, 6 cá nhân; Huân chương các loại cho 48 cán bộ đã có quá trình cống hiến lâu dài trong ngành Bưu điện. Tặng Bằng khen của Bộ trưởng cho 83 tập thể, 865 cá nhân và tặng Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp BCVT và CNTT cho 1.468 cá nhân.
3.12. Công tác Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên:
Công tác Đảng: Theo phân cấp của hệ thống tổ chức Đảng hiện hành, Đảng bộ cơ quan Bộ TT&TT là Đảng bộ cấp trên cơ sở (tương đương cấp quận, huyện), song là đảng bộ của cơ quan đầu não của Bộ TT&TT. Đảng bộ có vai trò hạt nhân chính trị-lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Bộ trong công tác quản lý nhà nước về bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, báo chí, xuất bản trên cả nước. Đảng bộ đã chỉ đạo, lãnh đạo việc xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch cho các thành phần kinh tế tham gia đóng góp vào sự phát triển bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin của đất nước; xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, lãnh đạo cơ quan Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước chuyên ngành.
Triển khai kịp thời và nghiêm túc các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, Đảng bộ đã thực hiện tốt công tác đổi mới tổ chức và hoạt động trong tình hình chuyển từ Đảng bộ cơ quan Bộ BCVT trực thuộc Đảng uỷ Khối cơ quan kinh tế Trung ương thành Đảng bộ cơ quan Bộ TT&TT trực thuộc Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương, gắn với quá trình thành lập và triển khai hoạt động của Bộ TT&TT trên cơ sở Bộ BCVT, tiếp nhận các tổ chức đảng tại Cục Báo chí và Cục Xuất bản từ Bộ VH-TT chuyển về, đảm bảo giữ vững truyền thống Đảng bộ trong sạch vững mạnh liên tục.
Công tác công đoàn: Năm 2007 là năm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, nhiều biến động về tổ chức. Công đoàn Cơ quan Bộ Bưu chính Viễn thông và các công đoàn trực thuộc Công đoàn cơ quan Bộ chuyển từ trực thuộc Công đoàn Bưu điện Việt Nam về trực thuộc Công đoàn Viên chức Việt Nam và đổi tên thành Công đoàn Bộ Thông tin và Truyền thông.
Công đoàn Bộ đã tổ chức quán triệt các văn bản chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ về thực hiện nhiệm vụ chính trị và các văn bản liên quan của Ban Thường vụ Công đoàn cấp trên đến 100% các Công đoàn trực thuộc dưới nhiều hình thức để triển khai đến từng đoàn viên công đoàn; phát động phong trào thi đua đến toàn thể cán bộ, đoàn viên công đoàn; 100% Công đoàn trực thuộc đều tổ chức phát động thi đua và có bản đăng ký thi đua hàng năm gửi về Công đoàn Bộ. Trên cơ sở đó, Công đoàn Bộ giữ vững ổn định, hoạt động có hiệu quả, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của các đơn vị và của Bộ.
Thường xuyên quan tâm thực hiện tốt chính sách xã hội; trợ cấp khó khăn cho gần 80 lượt cán bộ, đoàn viên gặp hoàn cảnh khó khăn. Hưởng ứng và tham gia đầy đủ các đợt vận động quyên góp ủng hộ các Qũy chính sách xã hội khác. Hưởng ứng các phong trào thi đua do các cấp ủy Đảng, chuyên môn và Công đoàn phát động, động viên cán bộ, đoàn viên hưởng ứng cuộc thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Công tác đoàn thanh niên: Tập trung đẩy mạnh công tác tập hợp giáo dục định hướng lý tưởng cho đoàn viên thanh niên, tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống, nếp sống lành mạnh, tuyên truyền rộng rãi trong toàn Đoàn về truyền thống vẻ vang của các thế hệ thanh niên gắn với kỷ niệm 76 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Chủ động tổ chức các hoạt động, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động do Thành đoàn Hà Nội và Đoàn cấp trên phát động. Tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào, phát động đoàn viên công đoàn nêu cao tinh thần chủ động học tập và nghiên cứu khoa học, chú trọng xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh, tập hợp đoàn kết thanh niên tham gia xây dựng Đảng…
3.13. Chỉ đạo hoạt động của các doanh nghiệp BCVT và CNTT:
Chỉ đạo VNPT sửa chữa, khôi phục tuyến cáp ngầm trên biển TVH, xây dựng phương án kết nối hướng quốc tế cho mạng viễn thông giữa các doanh nghiệp đảm bảo an toàn an ninh viễn thông quốc tế. Phối hợp các bộ, ngành, các tỉnh đã cơ bản ngăn chặn tình trạng phá hoại, cắt trộm cáp. Tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 30/CT-CP ngày 13/12/2007 về tăng cường bảo vệ các tuyến cáp viễn thông ngầm trên biển và bảo đảm an toàn viễn thông quốc tế. Chỉ đạo các hoạt động về việc Kỷ niệm 10 năm thành lập và phát triển Internet tại Việt Nam, Tổ chức Hội nghị quốc gia về phát triển Internet nhằm đánh giá các kết quả đạt được trong 10 năm phát triển Internet của Việt Nam và định hướng mục tiêu cho các năm tiếp theo. Hướng dẫn các đơn vị và doanh nghiệp triển khai thực hiện các thông tư quản lý Internet, quản lý trò chơi trực tuyến và các quy định thực hiện kết nối các mạng viễn thông công cộng; triển khai dịch vụ cố định không dây sử dụng công nghệ GSM; triển khai IP TV của VNPT và VTC; cấp và duy trì tên miền miễn phí cho hội cứu trợ trẻ em tàn tật. Hướng dẫn các doanh nghiệp làm đề án xin bán lại dịch vụ viễn thông. Xử lý tranh chấp về thực hiện kết nối giữa các doanh nghiệp viễn thông; Giải quyết vướng mắc giữa VNPT và EVNTelecom trong việc kết nối và cung cấp dịch vụ 1900, dịch vụ 108. Phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan giải quyết các thủ tục vướng mắc cho các doanh nghiệp xung quanh việc thực thi chính sách về Công nghiệp Công nghệ thông tin.
III. HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TẠI ĐỊA PHƯƠNG.
Công tác chỉ đạo đã được kịp thời và sát thực tế, lãnh đạo Bộ đã thăm và làm việc với UBND, Sở BCVT của hơn 40 tỉnh, thành phố và đã trực tiếp giải quyết được nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước về BCVT và CNTT tại địa phương.
Triển khai công tác tuyên truyền phổ biến văn bản QPPL về BCVT&CNTT cho các Sở, Ban, Ngành và cấp quận, huyện ở địa phương; tổ chức 2 lớp tập huấn cho khoảng 200 cán bộ các Sở BCVT về đảm bảo an toàn thông tin và triển khai thực hiện chỉ thị 03/2007/CT-BBCVT; tập huấn nghiệp vụ thanh tra tại 8 khu vực cho các Sở BCVT với tổng số 400 cán bộ tham dự; phối hợp với gần 20 Sở BCVT tổ chức tuyên truyền phổ biến quy định về quản lý tần số VTĐ cho ngư dân các tỉnh ven biển về quản lý tần số, cáp quang biển... Xây dựng chương trình và tổ chức tập huấn kiến thức quản lý nhà nước về BCVT&CNTT cho các Sở BCVT tại 8 khu vực, chủ động phối hợp, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho các Sở BCVT theo yêu cầu bằng văn bản hoặc tập huấn tại chỗ.
Thực hiện việc tổng hợp số liệu báo cáo nghiệp vụ BCVT&CNTT theo Quyết định số 1141/QĐ-BBCVT ngày 15/12/2006 của Bộ trưởng về việc phối hợp với các Bộ, Ngành có liên quan xây dựng khung hướng dẫn kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2007-2010 trong hoạt động của các cơ quan nhà nước để làm cơ sở cho các Sở BCVT triển khai hoạt động ứng dụng CNTT tại các địa phương. Chỉ đạo các Sở BCVT xác định vùng cung cấp dịch vụ viễn thông công ích và đề xuất kế hoạch triển khai. Hoàn thành cơ bản khung pháp lý để triển khai dịch vụ VTCI. Đối với đề án thành lập Trung tâm dịch vụ 116 (hỏi đáp danh bạ điện thoại), đôn đốc các Sở BCVT nhanh chóng nghiên cứu góp ý, tham gia về yếu tố kỹ thuật.
Hướng dẫn và tổ chức thẩm định 28 Quy hoạch thuộc lĩnh vực BCVT & CNTT, trong đó có 17 Quy hoạch về BCVT & CNTT đã được UBND tỉnh phê duyệt. Ngoài ra, Bộ đã chủ trì và giao nhiệm vụ cho một số Sở BCVT khu vực miền Bắc, miền Nam và miền Trung tiến hành khảo sát, đánh giá và xây dựng các đề án Quy hoạch phát triển CNTT và TT vùng kinh tế trọng điểm khu vực Miền Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Quy hoạch phát triển CNTT và TT vùng kinh tế trọng điểm khu vực miền Trung đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Quy hoạch phát triển CNTT và TT vùng kinh tế trọng điểm khu vực Bắc Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 và đã được Bộ trưởng phê duyệt. Nhìn chung, Sở BCVT các tỉnh, thành phố đã nhanh chóng hoàn thiện cơ cấu tổ chức, xây dựng định biên, biên chế các chức danh cán bộ, công chức, đã có hơn 50 Sở ban hành Quy chế làm việc và tiến hành thực hiện việc cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa trong hoạt động quản lý BCVT&CNTT. Mô hình đơn vị sự nghiệp thuộc Sở đã đem lại hiệu quả và hỗ trợ thiết thực cho công tác quản lý BCVT&CNTT trên địa bàn (21 Sở BCVT đã có đơn vị sự nghiệp và 16 Sở đã trình UBND tỉnh đề án và đang chờ phê duyệt); đã có 18 Sở BCVT được duyệt Quy hoạch thuộc lĩnh vực BCVT&CNTT, 24 Sở BCVT hoàn thành quy hoạch và đang trình UBND phê duyệt.
Trên cơ sở các văn bản QPPL của Chính phủ, Bộ BCVT, các Sở BCVT đã nhanh chóng nghiên cứu, tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố ban hành các văn bản QPPL theo thẩm quyền nhằm hoàn thiện hệ thống pháp lý điều chỉnh lĩnh vực BCVT&CNTT cho địa phương như: Tăng cường quản lý Internet; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê chuyên ngành; đẩy mạnh công tác quản lý tần số VTĐ; quản lý phát thanh và truyền hình; thúc đẩy phát triển điện thoại cố định; đảm bảo thông tin phục vụ các sự kiện lớn trong năm; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước; quy định việc thẩm định dự án BCVT&CNTT; quy định kết nối trong địa bàn; kiện toàn Ban chỉ đạo CNTT; chính sách thu hút đầu tư cho CNTT, làm đầu mối, tạo sự hợp tác giữa các đơn vị trên địa bàn; tăng cường quản lý các doanh nghiệp thông qua kế hoạch và các chế độ thông tin, báo cáo theo quy định chung của Bộ. Đi đôi với hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL, các Sở BCVT đã tích cực và chú trọng đến công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan đến BCVT và CNTT.
Công tác thanh tra, kiểm tra của các Sở BCVT được kiện toàn và đi dần vào nền nếp. Đến tháng 12/2007 đã có 62/64 Sở đã thành lập tổ chức thanh tra. Tổng số cán bộ công chức Thanh tra các Sở là 170 người; 46 Sở đã bổ nhiệm chức danh Chánh thanh tra (10 Chánh thanh tra là phó Giám đốc Sở kiêm nhiệm); 23 Sở đã bổ nhiệm Phó Chánh Thanh tra; 21 Sở có Thanh tra viên (trong đó có 03 Sở có 02 Thanh tra viên); 15 Sở chưa có Chánh thanh tra và không có Thanh tra viên. Trong năm, Thanh tra các Sở đã tiến hành 166 cuộc thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực bưu chính, chuyển phát (tăng 54 cuộc so với năm 2006). Tiến hành 384 cuộc thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực viễn thông (tăng 112 cuộc so với năm 2006), đã xử phạt vi phạm hành chính, thu hồi số tiền thu sai của khách nộp ngân sách Nhà nước là 687.262.280 đồng. Phối hợp với Cục Tần số VTĐ tiến hành 271 cuộc thanh tra, kiểm tra việc sử dụng thiết bị phát sóng vô tuyến điện và đã phát hiện nhiều đơn vị vi phạm và kịp thời xử lý các vi phạm theo đúng quy định của pháp luật. Tiến hành thanh tra 10.393 đại lý điện thoại internet, chiếm tỉ lệ 65.7% tổng số đại lý. Lập biên bản và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.157 đại lý sai phạm với tổng số tiền là 2.362.227.000 đồng. Thanh tra các Sở BCVT đã tiếp 190 lượt công dân, giải quyết 120 đơn thư khiếu nại.
Phòng quản lý Báo chí Xuất bản của các Sở Văn hóa-Thông tin mặc dù đang trong giai đoạn chờ đợi Chính phủ ban hành chức năng và nhiệm vụ mới, song đã chủ động tăng cuờng công tác báo chí, xuất bản trên địa bàn, tham mưu cho UBND các tỉnh, thành phố ban hành nhiều văn bản về quản lý báo chí và xuất bản.
Các cơ quan báo chí ở địa phương đã phối hợp chặt chẽ với Hội Nhà báo Trung ương và địa phương bám sát định hướng chính trị và thực tiễn đời sống chính trị, kinh tế xã hội, thông tin kịp thời và đầy đủ những sự kiện thời sự chính trị kinh tế của đất nước và của địa phương, phê phán các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, thực hiện quyền được thông tin của nhân dân, góp phần phát hiện, đề xuất xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật vừa là công cụ chỉ đạo, điều hành của các tổ chức Đảng, chính quyền, vừa là diễn đàn của nhân dân. Đặc biệt, các cơ quan báo chí ở địa phương đã tuyên truyền kịp thời các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, biểu dương gương người tốt việc tốt, những điển hình tiến tiến ở địa phương; tuyên truyền dịch bệnh , thiên tai
Công tác quản lý nhà n­ước về hoạt động xuất bản ở địa ph­ương đã triển khai thực hiện tốt. Việc cấp giấy phép, thanh kiểm tra và xử lý vi phạm đã tuân thủ theo các quy định của Luật Xuất bản. Tuy nhiên, nhiều Sở Văn hoá-Thông tin vẫn chư­a có bộ phận quản lý nghiệp vụ xuất bản, cán bộ quản lý chuyên trách còn phải kiêm nhiệm nhiều việc ảnh hư­ởng đến hiệu quả công tác, việc nộp và kiểm tra lư­u chiểu ở một số tỉnh còn thực hiện chư­a nghiêm. Nhiều địa phương chưa ổn định tư tưởng tổ chức vì phải chờ Nghị định về tổ chức lại các Sở.
IV. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN BCVT, CNTT VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP, HIỆP HỘI.
1. Tình hình phát triển BCVT và CNTT:
Trong năm 2007, mặc dù gặp khó khăn do bão, lũ gây ảnh hưởng đến thông tin liên lạc, nhưng mạng lưới bưu chính, viễn thông vẫn tiếp tục phát triển, nâng cao năng lực, dung lượng và mở rộng vùng phục vụ đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin và giao lưu văn hoá của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng của đất nước.
Viễn thông và Internet tiếp tục tăng trưởng mạnh. Năm 2007, phát triển mới 19,52 triệu máy điện thoại, bằng 168% so với cùng kỳ năm 2006, nâng tổng số máy điện thoại lên lên 46,94 triệu thuê bao, đạt mật độ 55,22 máy/100 dân (năm 2006 là 32,57 máy/100 dân). Năm 2007, Ngành quyết tâm phấn đấu nâng cao chất lượng mạng lưới, dịch vụ và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ bưu chính viễn thông, kể cả thành thị và nông thôn..
Lĩnh vực công nghệ thông tin đã có nhiều chuyển biến và phát triển với năng suất, hiệu quả cao. Doanh thu công nghiệp điện tử, thiết bị viễn thông đạt 2.460 triệu USD, tăng 17% so với năm 2006, tạo việc làm cho 297 ngàn lao động. Công nghiệp phần cứng tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng 25%/năm, doanh thu đạt 620 triệu USD, tạo việc làm cho 87 nghìn lao động. Công nghiệp phần mềm và dịch vụ phần mềm đạt 498 triệu USD, tăng 43%, tạo việc làm cho 48 nghìn lao động (doanh số xuất khẩu phần mềm và dịch vụ đạt 180 triệu USD). Công nghiệp nội dung số đạt 180 triệu USD, tăng 58% và tạo việc làm cho 32 nghìn lao động, năng suất bình quân hơn 10.000 USD/người/năm.
Năm 2007, giá cả tiêu dùng, chi phí xăng dầu, tỷ lệ lạm phát tăng cao gây khó khăn cho người tiêu dùng nhưng giá sử dụng dịch vụ viễn thông vẫn giữ mức ổn định do có các chính sách kích cầu, mở cửa cạnh tranh thị trường. Doanh thu BCVT năm 2007 đạt trên 67.000 tỷ đồng, tăng gần 36% so với năm 2006; nộp Ngân sách nhà nước được 9.699 tỷ đồng, tăng 31,2%.
2. Hoạt động của các doanh nghiệp:
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT):
Tổng doanh thu đạt 45.300 tỷ đồng, vượt 3,61% kế hoạch, tăng 14,08% so với năm 2006. Nộp ngân sách 6.917 tỷ, vượt 5,64% kế hoạch, tăng 12,78% so với năm 2006. Phát triển mới 9,88 triệu máy điện thoại, vượt 58,99% kế hoạch, tăng 214,4%, nâng tổng số thuê bao trên mạng lên 27,8 triệu máy. Số lượng thuê bao MegaVNN phát triển mới 514.000 số, tăng 340,6% so với 2006, nâng tổng số thuê bao lên 740.000 thuê bao. Năm 2007, VNPT đã phấn đấu hoàn thành toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, đạt tốc độ tăng trưởng khá, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Năng lực mạng lưới, cơ sở vật chất được nâng lên, đảm bảo an ninh, an toàn và độ dự phòng của cả hệ thống. Tiến hành đổi mới tổ chức, hình thức hoạt động và gia tăng thêm nhiều dịch vụ mới, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh cung cấp các dịch vụ cho xã hội. Chủ động trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến giá cước các dịch vụ, linh hoạt hơn trước những biến động của thị trường, thu hút nhu cầu khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ.
Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel):
Tổng Công ty Viễn thông Quân đội nhanh chóng phát triển thị trường. Thuê bao điện thoại tăng trưởng mạnh, góp phần tích cực trong việc phát triển, mở rộng giảm giá và đa dạng hóa thị trường BCVT. Năm 2007, phát triển được 5,9 triệu thuê bao điện thoại nâng tổng số thuê bao trên toàn mạng đạt 15,31 triệu máy, trong đó có hơn 10 triệu thuê bao di động. Tổng doanh thu 16.468 tỷ đồng, tăng 152% so với năm 2006, nộp ngân sách 2.692 tỷ đồng, tăng 122% so với năm 2006.
Công ty Cổ phần dịch vụ BCVT Sài Gòn (SPT):
Tổng doanh thu đạt gần 1.920 tỷ đồng. Phát triển mới 42.000 thuê bao điện thoại cố định, 2 triệu thuê bao điện thoại di động, nâng tổng số lên 5.738.040 thuê bao trong đó có 5.551.000 điện thoại di động.
Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVN Telecom):
Tổng doanh thu đạt 2.590 tỷ đồng, nộp ngân sách 354 tỷ đồng. Năm 2007, EVN Telecom tiếp tục đẩy mạnh công tác kinh doanh các dịch vụ viễn thông công cộng; tập trung đầu tư mới, mở rộng, nâng cấp dung lượng mạng đáp ứng nhu cầu phát triển rất nhanh về thuê bao điện thoại. Công ty tiến hành thử nghiệm mạng truy nhập băng rộng không dây WiFi-BPL qua mạng lưới phân phối điện. Chuẩn bị thủ tục đầu tư xây dựng tuyến cáp quang biển quốc tế, kết nối với các nước trong khu vực và thế giới. Đến cuối tháng 12/2007, đạt 2,5 triệu thuê bao điện thoại (thuê bao cố định 1,77 triệu, thuê bao di động 0,75 triệu).
Công ty Thông tin Điện tử Hàng hải (Vishipel):
Ngoài việc khai thác và cung cấp dịch vụ Inmarsat, thông tin duyên hải cho các phương tiện trong nước, nước ngoài hoạt động trên biển, hệ thống các Đài duyên hải Việt Nam đã phục vụ tốt thông tin cấp cứu và an toàn cứu nạn đáp ứng theo tiêu chuẩn quốc tế GMDSS, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác tìm kiếm cứu nạn. Đã xử lý 2877 trường hợp thông tin cấp cứu, khẩn cấp, trợ giúp thông tin cho 121 tàu cá, 47 tàu hàng Việt Nam và 3 tàu cá, 59 tàu hàng nước ngoài. Mạng điện thoại VoiP tiếp tục được đầu tư, nâng cấp và mở rộng kết nối với các mạng viễn thông khác và phát triển có hiệu quả, tổng lưu lượng đã đạt hơn 300 triệu phút/năm.
Công ty Cổ phần Viễn thông Hà Nội (Hanoi Telecom):
Tổ chức khai trương mạng thông tin di động HT Mobile, chính thức bắt đầu kinh doanh dịch vụ thông tin di động. Phát triển được 200.000 thuê bao, giữ tốc độ ổn định theo dự án khả thi đề ra của giai đoạn đầu. Mạng VoiIP 172 tiếp tục được nâng cấp, mở rộng, sản lượng chiều về đạt 10,5 triệu phút/tháng. Doanh thu Internet đã tăng gấp 3 lần năm 2006.
Công ty Cổ phần Viễn thông FPT:
Không ngừng phát triển mạng lưới hạ tầng, nâng cấp băng thông Internet để đáp ứng ngày càng cao tiêu chuẩn dịch vụ và yêu cầu của khách hàng. Tổng băng thông đi quốc tế của Công ty đã đạt 4,5 Gbps. Nhiều dịch vụ ứng dụng được thử nghiệm hứa hẹn đáp ứng cao hơn nhu cầu giải trí trên Internet của người sử dụng. Tổng số thuê bao đạt 225.000 trong đó phát triển 116.000 thuê bao. Tổng doanh thu đạt 870 tỷ đồng, lợi nhuận 225 tỷ đồng và nộp ngân sách 90 tỷ đồng.
Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện (VTC):
Tổng Công ty đã phát huy vai trò tiên phong của đơn vị Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, VTC đã nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh sang mô hình công ty mẹ - công ty con; từng bước triển khai công tác cổ phần hóa. Dịch vụ truyền hình kỹ thuật số đã dần hoàn thành mục tiêu phủ sóng trên toàn quốc và phát triển thêm chương trình VTC3 và VTC5. Dịch vụ truyền hình trên điện thoại di động đã được triển khai thử nghiệm tại Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng doanh thu trong năm đạt 1.500 tỷ đồng, vượt kế hoạch 20%; nộp ngân sách 80 tỷ đồng.
3. Hoạt động của các hội và hiệp hội:
Hội Vô tuyến điện tử Việt Nam (REV):
Tiến hành củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của Tạp chí Điện tử, đây là kênh thông tin quan trọng để tuyên truyền, phổ biến kiến thức của Hội, tạp chí đã phát hành 4kỳ/tháng với nhiều nội dung phong phú. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong nước và nước ngoài tổ chức nhiều hội thảo về chuyên môn nhằm giới thiệu các giải pháp, công nghệ mới có khả năng ứng dụng và phát triển tại Việt Nam. Thực hiện vai trò tư vấn, thẩm định và giám định xã hội, Hội đã tiến hành thẩm định các dự án của Bộ Công an, Đài Phát thanh Truyền hình Ninh Bình. Hợp tác quốc tế với một số trường Đại học, Hiệp hội vô tuyến, viễn thông quốc tế của một số nước trên thế giới. Hợp tác chặt chẽ với Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và nhiều cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, Hiệp hội trong nước và quốc tế... nhằm thúc đẩy, mở rộng hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ điện tử tiên tiến ở Việt Nam. Hội tham gia trực tiếp và là sáng lập viên của trường Đại học Quốc tế Bắc Hà.
Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (VEIA):
Với trên 130 hội viên hoạt động trên địa bàn toàn quốc, Hiệp hội tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối đề đạt ý kiến, nguyện vọng của doanh nghiệp với Nhà nước, đồng thời là địa chỉ tham mưu tư vấn giúp các cơ quan QLNN trong việc xây dựng các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước để thúc đẩy và phát triển nền Công nghiệp điện tử Việt Nam. Với vai trò tư vấn phản biện xã hội, Hội đã trực tiếp tư vấn Chiến lược tổng thể và chính sách bảo hộ sản xuất công nghiệp trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế, quy định của WTO đến năm 2020; "Chương trình phát triển công nghiệp điện tử giai đoạn 2007-2010" và nhiều văn bản khác; chủ trì tư vấn cho các doanh nghiệp trong nước về đầu tư, chuyển giao công nghệ, liên doanh, liên kết với nước ngoài, phương hướng sản xuất kinh doanh nhằm khai thác thế mạnh của từng hội viên và đảm bảo lợi ích toàn ngành, thông tin về tình hình hoạt động của ngành điện tử, công nghệ thông tin và viễn thông ở Việt Nam, trong khu vực và trên thế giới. Hội đã tổ chức ra mắt Câu lạc bộ các doanh nghiệp sản xuất máy tính Việt Nam, các sáng lập vỉên Câu lạc bộ là những doanh nghiệp có uy tín hàng đầu trong giới sản xuất máy tính tại Việt Nam, là nơi để các thành viên cùng trao đổi và chia sẻ những kinh nghiệm và cơ hội đầu tư phát triển.
Hội Tin học Việt Nam (VAIP):
Tiếp tục thực hiện tốt vai trò xã hội nghề nghiệp về CNTT-TT. VAIP đã mở rộng trên 30.000 hội viên, 49 hội tin học, trên toàn quốc. Hội tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động thường xuyên như Tuần lễ Tin học; Olympic Tin học Sinh viên; Thi lập trình quốc tế ACM/ICPC khu vực Châu Á.. đã được đánh giá cao và có vai trò thúc đẩy phát triển và ứng dụng CNTT. Hội tham gia tích cực cùng với Bộ, Ngành đóng góp ý kiến xây dựng và góp ý phản biện cho các dự thảo văn bản QPPL liên quan đến lĩnh vực CNTT, tích cực phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ nhằm thúc đẩy phát triển CNTT trên toàn quốc. Trong năm, Hội đã tổ chức thành công Đại hội nhhiệm kỳ VI.
Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (VINASA):
Trong năm qua Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc cả về tổ chức, hội viên và hoạt động đạt được nhiều kết quả tốt. Đã phát triển thêm 20 hội viên mới, nâng tổng số hội viên lên 138 doanh nghiệp và đã có 14 công ty có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký làm hội viên. Nhiều hoạt động thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam, đặc biệt tập trung xúc tiến xuất khẩu và thương mại phần mềm, thông tin đào tạo nguồn nhân lực, tạo cầu nối giữa Doanh nghiệp-Nhà nước, hợp tác và hội nhập quốc tế. Hoạt động của VINISA đã đem lại các lợi ích thiết thực cho các doanh nghiệp, từng bước nâng cao uy tín của Hiệp hội, tạo sự gắn kết tốt hơn giữa các hội viên, hỗ trợ nhau cùng phát triển và góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển công nghiệp phần mềm nói riêng và công nghệ thông tin nói chung, từng bước nâng vị thế của CNTT Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Hội Tem Việt Nam:
Năm 2007, Hội đã phát triển thêm 10 Hội Tem các tỉnh, thành phố, 150 CLB, 10.000 hội viên. Tạp chí tem đã được cải tiến tích cực, nâng cao chất lượng, kiện toàn các chuyên mục, tăng cường các hoạt động sưu tập tem, nâng cao chất lượng tri thức sưu tầm, kỹ năng dàn dựng sưu tầm và tham dự triển lãm của các hội viên. Trang tin điện tử của Hội tem Việt Nam (www.temvietnam.vn) đã chính thức hoạt động từ tháng 3/2007, thêm kênh lý luận mới cho Hội và những người yêu thích sưu tầm tem. Tại Triển lãm tem trẻ ASEAN 2007, Việt Nam đã đạt giải thưởng vàng và đứng nhất toàn đoàn; triển lãm tem Châu Á -Thái Bình Dương, Việt Nam cũng đã đạt 6 giải thưởng của Ban tổ chức.
Hội Xuất bản Việt Nam:
Năm 2007, Hội Xuất bản Việt Nam có 150 chi hội với 8000 hội viên, giảm gần 100 chi hội (một số chi hội là các công ty in đã tách khỏi Hội và gia nhập Hiệp hội in). Hội đã tổ chức thành công Đại hội nhiệm kỳ II (2007-2011). Đăng cai tổ chức Hội nghị quốc tế Hiệp hội xuất bản Châu Á- Thái Bình Dương với sự tham gia của đại diện 12 nước thành viên; với trách nhiệm là nước chủ nhà, hội đã thúc đẩy hợp tác, giao lưu giữa các Hiệp hội trong khu vực, tổ chức kết nạp thêm 2 thành viên mới là Malayxia và Brunei vào APP ngay tại Hội nghị. Phối hợp với Cục Xuất bản tổ chức các hoạt động kỷ niệm 55 năm ngày truyền thống Ngành. Năm 2007 là một năm hoạt động tích cực, sôi động và có hiệu quả trên các mặt chính trị, đối ngoại và tổ chức của Hội .
V. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC NĂM 2007.
1. Đánh giá chung:
Bộ Thông tin và Truyền thông đã hoàn thành tốt chức năng tham mưu cho Chính phủ, hoàn thành chức năng của Bộ, xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách phù hợp, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển thông tin và truyền thông trong giai đoạn mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Bộ đã hoàn thành tốt các chương trình kế hoạch đề ra, tích cực và nghiêm túc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Công tác quản lý Nhà nước của Bộ đã đạt kết quả tốt, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, của người dân; thị trường viễn thông phát triển nhanh và đúng theo lộ trình đã được định hướng của Bộ; các doanh nghiệp viễn thông đã có sự hợp tác tích cực, biểu hiện rõ nhất là trong kết nối, người dân có nhiều điều kiện thụ hưởng các sản phẩm dịch vụ mới với giá rẻ, chất lượng cao hơn. Lĩnh vực công nghệ thông tin đã có chuyển biến tích cực, Công nghiệp công nghệ thông tin thu hút được rất nhiều hãng lớn trên thế giới đến tiếp cận và đầu tư vào Việt Nam với nhiều dự án hàng tỷ USD, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, tạo nên hình ảnh đẹp của Việt Nam trên bản đồ CNTT toàn cầu. Đặc biệt, năm 2007, Bộ đã triển khai Nghị quyết của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ nhất; Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 8/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chuyển chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về báo chí, xuất bản và chuyển tổ chức biên chế cán bộ, công chức, viên chức làm công tác báo chí xuất bản từ Bộ Văn hóa - Thông tin sang Bộ Thông tin và Truyền thông. Hoạt động báo chí, xuất bản in và phát hành đã có những bước phát triển mới đúng định hướng của Đảng và Nhà nước.
2. Một số kết quả nổi bật:
Ngoài các kết quả thực hiện nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất, Bộ đã chỉ đạo thực hiện và đạt được một số kết quả nổi bật sau:
- Bộ đã hoàn thiện một số văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, chiến lược quy hoạch về Bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin và xuất bản, báo chí. Việc ban hành Nghị định hướng dẫn Luật CNTT, Luật Giao dịch điện tử và các quyết định phê duyệt các Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm, công nghiệp nội dung và công nghiệp điện tử, tạo động lực mới cho lĩnh vực điện tử, CNTT phát triển;
- Công tác chỉ đạo điều hành của Bộ trong năm qua đã từng bước giải quyết được bức xúc của doanh nghiệp và thị trường như đổi mới quản lý, mở cửa thị trường, phát huy nội lực, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, chú trọng nhiều đến kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ chuyên ngành;
- Các doanh nghiệp BCVT và CNTT tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, duy trì tốc độ phát triển ngày một tăng. Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp có nhiều tiến bộ. Mạng lưới dịch vụ BCVT tiếp tục phát triển mạnh, các dịch vụ ngày càng được mở rộng, đa dạng, đảm bảo năng lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước;
- Hoạt động thông tin báo chí đã đi đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, tuyên truyền phục vụ nhiệm chính trị của đất nước, về phòng chống thiên tai, bão lụt, về dịch bệnh, về tai nạn giao thông và đội mũ bảo hiểm nhất là tuyên truyền về việc Việt Nam được bầu vào Uỷ viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Bộ đã tổ chức tốt Hội nghị 8 năm Thi hành Luật Báo chí, từ đó rút ra được những bất cập của Luật Báo chí hiện nay, những vấn đề mới nẩy sinh đang đặt ra với đối với hoạt động báo chí và quản lý báo chí để đề xuất sửa đổi Luật và ban hành thêm nhiều quy chế quản lý dưới Luật;
- Công tác quản lý xuất bản, in và phát hành được tăng cường đã chấn chỉnh và ngăn chặn có hiệu quả việc in lậu, nhất là in lậu sách giáo khoa. Đã tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 55 năm ngày truyền thống ngành Xuất bản, In, Phát hành, nhất là hoạt động Triển lãm-Hội chợ sách Quốc tế - Việt Nam năm 2007.
Đặc biệt từ khi sáp nhập, Bộ đã sớm ổn định đi vào hoạt động và đạt những kết quả nổi bật sau:
- Việc hợp nhất Bộ Thông tin và Truyền thông được tiến hành tự tin, tự chủ, hòa thuận, suôn sẻ, có trách nhiệm và xử lý công việc chuyển tiếp nhanh, có chất lượng, hiệu quả;
- Trong thời gian ngắn đã xác định tốt các định hướng trọng tâm, trọng điểm, những việc cần làm trong thời gian tới và những khó khăn cần tháo gỡ;
- Xây dựng Nghị định về chức năng, nhiệm vụ vàtổ chức bộ máy của Bộ trên nguyên tắc khoa học, tạo sự thống nhất cao;
- Tự tin xử lý các vấn đề đối ngoại theo nguyên tắc rộng mở, đôi bên cùng có lợi, sẵn sàng hợp tác tạo niềm tin và thế đứng lâu dài cho Bộ để mở rộng hợp tác, liên doanh, liên kết khu vực và quốc tế;
- Nhanh chóng ổn định trụ sở làm việc của các đơn vị đi vào hoạt động có hiệu quả; chấp nhận khó khăn trước mắt để ổn định lâu dài;
- Đã hoàn thiện tốt vấn đề thể chế, luật lệ, cơ chế chính sách, phân cấp, quy chế nội bộ, cơ chế quản lý đa ngành; khẩn trương nghiên cứu để xây dựng 3 bộ Luật mới: Luật Viễn thông, Luật Bưu chính và Luật Tần số vô tuyến điện;
- Thực hiện khá tốt các chương trình đề án lớn đăng ký trong năm 2007, cơ bản hoàn thành trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đúng thời hạn với chất lượng tốt;
- Chuẩn bị tốt nội dung chương trình công tác lớn trong năm 2008 phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ bản, chuyên môn, nghiệp vụ, công tác tài chính công khai, minh bạch;
- Tăng cường chức năng quản lý Nhà nước của Bộ đối với các Ngành, các cấp, các lĩnh vực và toàn lãnh thổ. Nhất là trên 2 lĩnh vực thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin;
- Tạo được sự đoàn kết hợp lực, gắn kết các tổ chức đoàn thể, chính trị phục vụ tích cực cho chuyên môn; tạo được sự chủ động, đoàn kết đẩy nhanh tiến độ thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị cụ thể.
3. Những khó khăn, hạn chế, kiến nghị:
a. Khó khăn và hạn chế:
-Một số văn bản quản lý thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ chưa được xây dựng và ban hành kịp thời, chất lượng chưa cao, nhất là triển khai một số chương trình công tác của Chính phủ;
- Tiến độ xử lý công việc còn chậm so với yêu cầu của cơ sở và thực tiễn;
- Những vướng mắc của Bộ và địa phương, doanh nghiệp, chưa được các cơ quan đơn vị tập trung giải quyết triệt để, nhanh chóng và hiệu quả;
- Chất lượng tham mưu trong một số lĩnh vực quản lý Nhà nước hiệu quả và tính chủ động chưa cao;
- Một số chức năng, nhiệm vụ của các Vụ, Cục trong nhiều lĩnh vực còn chồng chéo, thiếu chặt chẽ, chưa khoa học, cần được xem xét và điều chỉnh cho hợp lý;
- Một số lĩnh vực cần quan tâm của các Vụ, Cục như công tác nhân lực và đầu tư cho cơ chế chính sách chưa sát thực và kịp thời;
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong Bộ còn yếu, chưa tương xứng với vai trò của Bộ quản lý nhà nước về công nghệ thông tin.
b. Nguyên nhân của các tồn tại và hạn chế:
- Nhận thức tầm quan trọng của Bộ đa ngành về Thông tin và Truyền thông trong cán bộ, công chức của Ngành còn hạn chế;
- Quản lý nhà nước về công nghệ thông tin-truyền thông còn nhiều lúng túng và hạn chế;
- Điều kiện về kinh phí để triển khai các hoạt động còn hạn hẹp, mặt bằng trụ sở và các phương tiện làm việc còn thiếu thốn, bất cập;
- Lực lượng cán bộ, chuyên viên trẻ có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác còn thiếu, chưa đồng đều, thu nhập của cán bộ công nhân viên còn thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, chưa đủ hấp dẫn để giữ và thu hút nhân tài.
c. Một số kiến nghị:
- Lĩnh vực công nghệ thông tin chưa được quan tâm đầu tư thỏa đáng, đề nghị Chính phủ có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm thúc đẩy ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin thành một ngành kinh tế mũi nhọn;
- Trong quá trình triển khai nghiên cứu xây dựng các đề án, chương trình, đề nghị Chính phủ tạo điều kiện nhiều hơn nữa nhằm hỗ trợ kinh phí kích cầu để thực hiện đề án, chương trình theo kế hoạch đã được phê duyệt;
- Đề nghị Chính phủ ủng hộ chủ trương cho xây dựng cơ chế chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài trong lĩnh vực công nghệ thông tin;
- Đề nghị Chính phủ có thêm một số chính sách hỗ trợ về đất đai, địa điểm, để kích thích các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực trọng điểm như: Đào tạo nguồn nhân lực CNTT, CNCNTT và ứng dụng CNTT.
Phần thứ hai
CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC TRỌNG TÂM NĂM 2008
I. PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG.
Năm 2008 là năm thứ ba thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, cũng là năm thứ ba triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội (2006-2010). Ngành Thông tin và Truyền thông tiếp tục đẩy mạnh Chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết Đại hội Đảng X; thực hiện tốt các Nghị quyết của Chính phủ vàQuốc hội, hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông trên tất cả các lĩnh vực Bưu chính,Viễn thông, Công nghệ thông tin và Báo chí, Xuất bản. Tập trung phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị trong năm; Triển khai thực hiện các đề án có tính chiến lược đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đẩy mạnh hoạt động công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý nhà nước và dịch vụ xã hội.
II. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM.
1. Tập trung chuyển nhận thức về vai trò, vị trí chức năng nhiệm vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông, để mỗi cán bộ công nhân viên chức hiểu và xác định nhiệm vụ của mình trong giai đoạn mới.
2. Tiến hành rà soát bộ máy, điều chuyển bố trí lại cán bộ phù hợp với nhu cầu thực tiễn, và phù hợp với Nghị định số 187/2007/NĐ-CP ngày 25/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông; phấn đấu năm 2008 là năm tăng tốc đẩy nhanh tiến độ xử lý công việc trên tất cả các lĩnh vực, tạo đà phát triển cao hơn cho các năm sau.
3. Tập trung công tác chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, giúp các địa phương tháo gỡ những khó khăn vướng mắc. Đặc biệt giúp đỡ các Sở BCVT trong việc ổn định tổ chức sau khi được kiện toàn sáp nhập và bổ sung chức năng nhiệm vụ mới.
4. Tăng cường công tác đối ngoại, tích cực chủ động hội nhập quốc tế, học tập kinh nghiệm của thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin và thông tin đối ngoại; tạo điều kiện để các doanh nghiệp viễn thông cạnh tranh lành mạnh để không ngừng phát triển.
5. Dồn trí tuệ và nguồn lực của Bộ để triển khai nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin và Chính phủ điện tử bắt đầu từ năm 2008, có lộ trình và bước đi phù hợp, khoa học với tinh thần tập hợp trí tuệ của cả nước đểtìm hướng đi cách làm hiệu quả nhất.
6. Tăng cường chức năng quản lý nhà nước về báo chí và xuất bản; hoàn chỉnh tất cả các cơ chế chính sách quy chế quản lý mới để quản lý báo chí, xuất bản đạt hiệu quả tốt nhất phù hợp với tình hình trong nước và hội nhập quốc tế.
7. Tích cực chỉ đạo công tác xã hội hóa trên tất cả các lĩnh vực Bộ quản lý; đảm bảo lộ trình cổ phần hóa, thu hút các nguồn lực cho thông tin truyền thông ngày một tốt hơn.
8. Đẩy nhanh quá trình giảm bù lỗ cho Bưu chính để Bưu chính hoạt động có hiệu quả, tăng cao tính cạnh tranh, sớm có lãi.
9. Tập trung cho công tác đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ đầu Ngành và cán bộ công nghệ thông tin.
10. Đoàn kết hợp lực xây dựng Bộ Thông tin và Truyền thông sáng giá trong cơ chế mới, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và hội nhập quốc tế thắng lợi.
III. CÔNG TÁC TRỌNG TÂM
Căn cứ Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010; kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010; kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2008; Chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội; xuất phát từ nhu cầu thực tế công tác quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, báo chí và xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng các Chương trình đề án năm 2008, tập trung một số văn bản: Nghị định của Chính phủ về tổ chức hoạt động của Thanh tra Thông tin và Truyền thông; Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Internet; Nghị định của Chính phủ thay thế Nghị định 111/2005/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Xuất bản; Quy hoạch phát triển an toàn thông tin quốc gia; Quy hoạch các khu công nghệ thông tin tập trung đến 2020, tầm nhìn 2050; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thành lập Trung tâm kỹ thuật an toàn mạng Quốc gia; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho đào tạo nguồn nhân lực CNTT; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án điều chỉnh cước điện thoại nội hạt, nội tỉnh; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách quản lý và phát triển phần mềm mã nguồn mở ở Việt Nam; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm điện tử- tin học và viễn thông; hoàn thiện và trình Chính phủ dự án Luật Tần số vô tuyến điện; hoàn thiện và trình Chính phủ dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản; hoàn thiện và trình Chính phủ dự án Luật Báo chí (sửa đổi); hoàn thiện và trình Chính phủ dự án Luật Viễn thông; hoàn thiện và trình Chính phủ dự án Luật Bưu chính./.
BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
PHỤ LỤC I
Các đề án trình CP, TTgCP ban hành năm 2007
Stt
Tên đề án, dự án
CP, TTg ban hành
1.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thay thế Quyết định 217/2003/QĐ-TTg ngày 27/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý giá cước dịch vụ bưu chính, viễn thông.
39/2007/QĐ-TTg ngày 21/3/2007
2.
Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực CNTT.
63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007
3.
Nghị định của Chính phủ về Ứng dụng CNTT trong các cơ quan hành chính nhà nước.
64/2007/NĐ-CP ngày 12/4/2007
4.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển Công nghiệp phần mềm tới năm 2010.
51/2007/QĐ-TTg ngày 12/4/2007
5.
Nghị định của Chính phủ về Chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
26/2007/NĐ-CP ngày 15/4/2007
6.
Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật CNTT về Công nghiệp CNTT.
71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007
7.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp nội dung thông tin số đến năm 2010.
56/2007/QĐ-TTg ngày 03/5/2007
8.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam tới năm 2010.
75/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007
9.
Nghị định của Chính phủ về dịch vụ chuyển phát
128/2007/NĐ-CP ngày 02/8/2007
10.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng chống thiên tai trên biển.
137/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007
11.
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các tuyến cáp viễn thông ngầm trên biển và đảm bảo an toàn viễn thông quốc tế.
30/2007/CT-TTg ngày 13/12/2007
PHỤ LỤC II
Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin Truyền thông)
thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2007
Stt
Tên đề án, dự án
Ban hành
1.
Quyết định của Bộ trưởng Bộ BCVT phê duyệt Quy hoạch phát triển CNTT-TT vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến 2020.
13/2007/QĐ-BBCVT ngày 15/6/2007
2.
Quyết định của Bộ trưởng Bộ BCVT phê duyệt Quy hoạch phát triển CNTT-TT vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
14/2007/QĐ-BBCVT ngày 15/6/2007
3.
Quyết định của Bộ trưởng Bộ BCVT phê duyệt Quy hoạch phát triển CNTT-TT vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
15/2007/QĐ-BBCVT ngày 15/6/2007
4.
Quyết định của Bộ trưởng Bộ BCVT phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin Việt Nam đến năm 2020.
5/2007/QĐ-BTTTT ngày 26/10/2007
PHỤ LỤC III
Các đề án trình CP, TTgCP năm 2007
Stt
Tên đề án, dự án
Ghi chú
1.
Chương trình Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2007 1010.
Tờ trình 1393/TTr-BBCVT ngày 29/6/2007
2.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình đến 2020.
Tờ trình 1577/TTr-BTTTT ngày 31/12/2007
3.
Quy chế quản lý và triển khai Chương trình phát triển Công nghiệp phần mềm và Chương trình phát triển Công nghiệp nội dung số đến năm 2010.
Tờ trình 829/TTr-BTTTT ngày 30/10/2007
4.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia; Quy chế xây dựng, cập nhật và duy trì cơ sở dữ liệu Quốc gia.
Tờ trình 1565/TTr-BTTTT ngày 31/12/2007 v/v Ban hành danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia;
Tờ trình 1566/TTr-BTTTT ngày 31/12/2007 v/v ban hành Quy chế xây dựng cập nhật và duy trì cơ sở dữ liệu quốc gia.
5.
Nghị định của Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet thay thế Nghị định 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet ngày 23/8/2001.
Tờ trình 1556/TTr-BTTTT ngày 31/12/2007
6.
Nghị định của Chính phủ về chống thư rác.
Tờ trình 1574/TTr-BTTTT ngày 31/12/2007
7.
Đề án cung ứng dịch vụ viễn thông công ích
Tờ trình 1291/TTr-BTTTT ngày 06/12/2007
8.
Nghị định của Chính phủ về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông.
Xin hoãn thời gian trình đến Quí I năm 2008
9.
Nghị định của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý đầu tư đối với các dự án ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.
10.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển CNTT-TT Việt Nam đến năm 2020.
PHỤ LỤC IV
Các đề án dự kiến trình CP, TTgCP năm 2008
Stt
Tên đề án, dự án
Trình
TTCP
Trình
CP
Dự kiến trình
1.
Hoàn thiện và trình Chính phủ dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản.
 
x
Quí I
2.
Hoàn thiện và trình Chính phủ dự án Luật Báo chí (sửa đổi).
 
x
Quí I
3.
Nghị định của Chính phủ về tổ chức hoạt động của Thanh tra Thông tin và Truyền thông.
 
x
Quí II
4.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho đào tạo nguồn nhân lực CNTT.
x
 
Quí II
5.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc quản lý và sử dụng thiết bị gây nhiễu thông tin di động tế bào.
x
 
Quí II
6.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý Game online.
x
 
Quí II
7.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT Việt Nam đến năm 2015.
x
 
Quí III
8.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách quản lý và phát triển phần mềm mã nguồn mở ở VN.
x
 
Quí III
9.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm điện tử- tin học và viễn thông.
x
 
Quí IV
PHỤ LỤC V
Danh mục các văn bản QPPL Bộ ban hành năm 2007
Số TT
Số và ký hiệu công văn
Ngày tháng công văn
Trích yếu nội dung
Quyết định
1.
1/2007/QĐ-BBCVT
2/1/2007
Ban hành Quy chế kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của Bộ Bưu chính, Viễn thông.
2.
2/2007/QĐ-BBCVT
30/1/2007
QĐ vv quy định mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với dịch vụ bưu chính và dịch vụ chuyển phát.
3.
3/2007/QĐ-BBCVT
6/2/2007
Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Tần số VTĐ.
4.
4/2007/QĐ-BBCVT
4/4/2007
Ban hành danh mục và mẫu các văn bản trong hoạt động thanh tra và xử lý vi phạm hành chính của Thanh tra chuyên ngành BCVT&CNTT.
5.
5/2007/QĐ-BBCVT
5/4/2007
Ban hành quy định về giải quyết khiếu nại và hướng dẫn giải quyết tranh chấp giữa người sử dụng dịch vụ với bên cung cấp dịch vụ bưu chính, chuyển phát, viễn thông và Internet.
6.
6/2007/QĐ-BBCVT
7/5/2007
Quyết định giá cước kết nối dịch vụ điện thoại quốc tế chiều về Việt Nam vào mạng cố định.
7.
7/2007/QĐ-BBCVT
7/5/2007
QĐ ban hành cước kết nối đối với liên lạc điện thoại giữa hai mạng di động.
8.
8/2007/QĐ-BBCVT
7/5/2007
Quyết định ban hành cước kết nối đối với liên lạc từ mạng điện thoại cố định vào mạng điện thoại di động.
9.
9/2007/QĐ-BBCVT
14/5/2007
QĐ Công bố vùng cung cấp dịch vụ viễn thông công ích.
10.
10/2007/QĐ-BBCVT
14/5/2007
Ban hành bảng giá ca máy và thiết bị thi công xây dựng công trình BCVT.
11.
11/2007/QĐ-BBCVT
24/5/2007
Quyết định sửa đổi, bổ sung QĐ số 20/2006/QĐ-BBCVT ngày 30/06/2006 của Bộ trưởng BBCVT ban hành Danh mục sản phẩm CNTT đã qua sử dụng cấm nhập khẩu.
12.
12/2007/QĐ-BBCVT
6/6/2007
Ban hành Quy chế soạn thảo, thẩm định, ban hành, rà soát và hệ thống hoá văn bản QPPL.
13.
13/2007/QĐ-BBCVT
15/6/2007
v/v phê duyệt Quy hoạch phát triển CNTT và TT vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
14.
14/2007/QĐ-BBCVT
15/6/2007
v/v phê duyệt Quy hoạch phát triển CNTT và TT vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
15.
15/2007/QĐ-BBCVT
15/6/2007
v/v phê duyệt Quy hoạch phát triển CNTT và TT vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
16.
16/2007/QĐ-BBCVT
15/6/2007
Về việc thành lập Tổng Công ty Bưu chính Bưu chính Việt Nam.
17.
17/2007/QĐ-BBCVT
15/6/2007
Quyết định ban hành định mức hỗ trợ và duy trì phát triển cung ứng dịch vụ viễn thông công ích.
18.
18/2007/QĐ-BBCVT
18/6/2007
Quyết định ban hành đơn giá XD công trình chuyên ngành BCVT.
19.
19/2007/QĐ-BBCVT
19/6/2007
Ban hành cước kết nối giữa mạng Inmarsat của Công ty Thông tin Điện tử Hàng hải Việt Nam với mạng viễn thông công cộng của các DN viễn thông Việt Nam;
20.
20/2007/QĐ-BBCVT
19/6/2007
Ban hành Quy chế chứng thực Chữ ký số.
21.
21/2007/QĐ-BBCVT
20/7/2007
Ban hành Quy định về hệ thống biểu mẫu nghiệm thu sản lượng dịch vụ viễn thông công ích và thanh toán, quyết toán kinh phí hỗ trợ cung ứng dịch vụ viễn thông công ích.
22.
22/2007/QĐ-BBCVT
2/8/2007
Quyết định về dịch vụ dành riêng cho Bưu chính Việt Nam.
23.
1/2007/QĐ-BTTTT
29/8/2007
Quyết định ban hành cước kết nối giữa mạng viễn thông di động mặt đất và mạng viễn thông cố định mặt đất quốc tế đối với dịch vụ điện thoại quốc tế.
24.
2/2007/QĐ-BTTTT
29/8/2007
Quyết định cước kết nối giữa mạng viễn thông cố định mặt đất quốc tế và mạng viễn thông cố định nội hạt, nội tỉnh mặt đất.
25.
3/2007/QĐ-BTTTT
4/9/2007
Quyết định về việc ban hành Quy định quản lý thuê bao di động trả trước.
26.
4/2007/QĐ-BTTTT
14/9/2007
Quyết định về dịch vụ dành riêng cho Bưu chính Việt Nam.
27.
5/2007/QĐ-BTTTT
26/10/2007
V/v Phê duyệt quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT Việt Nam đến năm 2020.
28.
6/2007/QĐ-BTTTT
6/12/2007
Quyết định vv sửa đổi một số điều của Quy định quản lý tem bưu chính ban hành kèm theo QĐ số 16/2005/QĐ-BBCVT ngày 29/4/2005 của Bộ trưởng.
29.
7/2007/QĐ-BTTTT
19/12/2007
V/v Phê duyệt Quy hoạch băng tần cho các hệ thống thông tin vô tuyến cố định và lưu động mặt đất của Việt Nam trong dải tần 406.1-470MHz
30.
8/2007/QĐ-BTTTT
24/12/2007
Ban hành danh mục các sản phẩm phần mềm mã nguồn mở đáp ứng được yêu cầu sử dụng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước
31.
9/2007/QĐ-BTTTT
26/12/2007
V/v IN cấp thẻ nhà báo thời hạn 2006-2010 (mẫu mới)
Thông tư hướng dẫn
1.
1/2007/TT-BBCVT
3/1/2007
Thông tư hướng dẫn một số nội dung về dịch vụ bưu chính do BCVN cung ứng
2.
2/2007/TT-BBCVT
2/8/2007
Thông tư hướng dẫn chi tiết một số nội dung của QĐ 169/2006/QĐ-TTg ngày 17/7/2006 và QĐ 223/2006/QĐ-TTg ngày 4/10/2006 của TTg về việc đầu tư, mua sắm các sản phẩm CNTT của các cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn có nguồn gốc ngân sách nhà nước
3.
01/2007/TTLT-BTTTT-BXD
03/12/2007
Thông tư liên tịch hướng dẫn việc lắp đặt, quản lý, sử dụng thùng thư bưu chính, hệ thống cáp điện thoại cố định và hệ thống cáp truyền hình trong các toà nhà nhiều tầng có nhiều chủ sử dụng
4.
12/2007/TTLT-BXD-BTTTT
11/12/2007
Thông tư liên tịch hướng dẫn về cấp Giấy phép xây dựng đối với các công trình trạm thu, phát sóng thông tin di động ở các đô thị.
5.
2/2007/TT-BTTTT
13/12/2007
Thông tư hướng dẫn thực hiện quy định về quản lý giá cước dịch vụ BCVT
Chỉ thị
1.
1/CT-BBCVT
19/1/2007
Chỉ thị về công tác TĐKT năm 2007
2.
2/CT-BBCVT
5/2/2007
Chỉ thị về tổ chức đón Tết và đảm bảo thông tin liên lạc Tết Đinh Hợi năm 2007
3.
3/2007/CT-BBCVT
23/2/2007
Tăng cường đảm bảo an ninh thông tin trên mạng Internet
4.
5/2007/CT-BBCVT
9/4/2007
V/v chỉ thị tăng cường quản lý thiết bị phát sóng VTĐ trên phương tiện nghề cá bảo đảm an toàn cho thông tin VTĐ trên biển
5.
6/CT-BBCVT
17/4/2007
Công tác phòng, chống lụt, bão giảm nhẹ thiên tai năm 2007
6.
7/CT-BBCVT
7/7/2007
Về Định hướng chiến lược phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (gọi tắt là "Chiến lược Cất cánh")
7.
8/2007/CT-BBCVT
1/8/2007
Về thúc đẩy phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông phục vụ nông thôn
PHỤ LỤC VI
10 SỰ KIỆN NỔI BẬT
TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG NĂM 2007
1. Thành lập Bộ Thông tin và Truyền thông.
Ngày 02/8/2007, Quốc hội đã chính thức phê chuẩn việc thành lập Bộ Thông Tin và Truyền Thông, trên cơ sở hợp nhất Bộ Bưu Chính, Viễn Thông và chức năng quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản của Bộ Văn Hóa Thông Tin. Ông Lê Doãn Hợp được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông Tin và Truyền Thông.
Việc thành lập Bộ Thông Tin và Truyền Thông không chỉ là sự đổi tên thông thường và phép cộng đơn giản các chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực BCVT-CNTT, báo chí, xuất bản, phát thanh - truyền hình, mà còn thể hiện một tư duy mới trong quản lý đa ngành, đa lĩnh vực theo hướng tinh gọn bộ máy quản lý hành chính, tăng tính trách nhiệm và hiệu quả quản lý. Việc thành lập Bộ Thông Tin và Truyền Thông cũng phù hợp với xu thế phát triển và hội tụ giữa công nghiệp nội dung và hạ tầng truyền thông của thế giới.
2. Đạt và vượt số thuê bao điện thoại của kế hoạch 5 năm (2006-2010) do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra.
Mật độ điện thoại của Việt Nam đạt 35 máy/100 dân đúng vào ngày mùng Một Tết Đinh Hợi (17/2/2007). Với con số này, ngành BCVT đã hoàn thành trước 3 năm chỉ tiêu về mật độ điện thoại mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra cho kế hoạch 5 năm (2006-2010). Kết quả này là nỗ lực phấn đấu liên tục của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam trong các năm qua. Hiện Việt Nam đã đạt 46 triệu thuê bao điện thoại, trong đó thuê bao di động chiếm 75% và mật độ điện thoại là 54 máy/100 dân. Với con số này, Việt Nam tiếp tục là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển điện thoại nhanh trên thế giới.
3. Công đoàn Bưu điện Việt Nam đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh nhân dịp 60 năm ngày thành lập.
Được thành lập ngày 30/8/1947, Công đoàn BĐVN từng bước khẳng định vai trò của mình, và trở thành người đồng hành tin cậy của người lao động. Hiện nay, Công đoàn BĐVN quản lý 125 công đoàn trực thuộc với hơn 80.000 đoàn viên và trên 1.300 công đoàn cơ sở. Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, Công đoàn BĐVN luôn phát huy truyền thống "Trung thành - Dũng cảm - Tận tụy - Sáng tạo - Nghĩa tình". Ghi nhận 60 năm nỗ lực cố gắng của Công đoàn BĐVN, ngày 30/8/2007, thay mặt Đảng, Nhà nước, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho Công đoàn Bưu điện Việt Nam.
4. 10 năm phát triển và hội nhập của Internet Việt Nam.
Ngày 19/11/1997, Việt Nam đã chính thức kết nối vào mạng Internet toàn cầu. Sau 10 năm phát triển, Việt Nam đã có hơn 5 triệu thuê bao Internet, với hơn 18 triệu người sử dụng thường xuyên, chiếm 21,6% dân số, vượt mức trung bình của thế giới và châu Á. Việt Nam là nước triển khai khá sớm nhiều dịch vụ Internet hiện đại như điện thoại Internet, Wimax, Wifi. Internet đã thâm nhập ngày càng sâu rộng vào mọi hoạt động KT-XH của đất nước và đời sống của người dân, góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá và xây dựng xã hội thông tin.
5. Thống nhất triển khai Chương trình ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước theo Nghị định 64/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
Sau khi Thủ tướng Chính phủ quyết định ngừng triển khai Đề án 112, việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước sẽ được triển khai theo Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước. Trên cơ sở Nghị định này, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng và trình Chính phủ để ban hành Chương trình ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước. Nhằm tạo thuận lợi cho các cơ quan nhà nước triển khai Nghị định và Chương trình ứng dụng CNTT. Bộ Thông tin và Truyền thông đã chủ trì và phối hợp xây dựng một số văn bản như Nghị định về quy chế quản lý đầu tư các dự án ứng dụng CNTT sử dụng vốn ngân sách nhà nước; Thông tư hướng dẫn về chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho ứng dụng CNTT; Khung tương hợp Chính phủ điện tử, Danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia, Quy chế xây dựng, cập nhật và duy trì các cơ sở dữ liệu quốc gia vv...
6. Công nghiệp CNTT phát triển khởi sắc, đặc biệt là công nghiệp nội dung số và các dịch vụ trực tuyến.
Năm 2007, một loạt tập đoàn CNTT, điện tử và viễn thông hàng đầu thế giới tiếp tục đầu tư lớn hàng tỷ USD vào Việt Nam như tập đoàn Intel, Foxconn, Nidec, Compal, Panasonic, Renesas... Không chỉ hấp dẫn các tập đoàn sản xuất phần cứng, một loạt các công ty lớn trong lĩnh vực công nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT như Yahoo, Microsoft, IBM, Vodafone, eBay... cũng tăng cường mở rộng hoạt động và hiện diện thương mại tại Việt Nam, đưa lĩnh vực công nghiệp CNTT trở thành điểm sáng về thu hút đầu tư năm nay của đất nước. Sản phẩm điện tử, vi tính và linh kiện của Việt Nam tiếp tục là một trong các sản phẩm xuất khẩu hàng đầu của đất nước và đạt giá trị 2,18 tỷ USD. Bên cạnh đó, công nghiệp nội dung số và dịch vụ trực tuyến năm nay phát triển mạnh. Hàng loạt cổng thông tin trực tuyến, các công cụ tìm kiếm trực tuyến và các mạng xã hội tiếng Việt ra đời đã thu hút được đông đảo người tham gia từ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến với người dân.
7. Thành lập Tổng công ty Bưu chính Việt Nam.
Đây là sự kiện mang tính lịch sử có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của toàn ngành BCVT Việt Nam. Sau 62 năm gắn bó khăng khít cùng hoạt động và hạch toán chung, hai khối bưu chính và viễn thông đã chính thức tách riêng. Việc tách riêng hoạt động của hai lĩnh vực nhằm hướng tới chuyên môn hoá việc quản lý và cung cấp dịch vụ cho xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho viễn thông hội nhập toàn diện và bưu chính từng bước phát triển độc lập, tự chủ để tiến tới tự cân đối thu chi và kinh doanh có lãi sau năm 2013.
8. Kỷ niệm 55 năm ngày truyền thống ngành xuất bản, in, phát hành sách Việt Nam.
Ngày 10/10/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Nhà in Quốc gia, từ đó đến nay, ngày này đã trở thành ngày truyền thống của những người làm công tác xuất bản, in và phát hành sách cả nước.
Từ cuốn sách Đường Kách mệnh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ra đời năm 1927, là tác phẩm cách mạng đầu tiên do chính những người thợ in Việt Nam làm ra từ những phương tiện hết sức thô sơ cho đến những cuốn sách ngày nay như Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm với phương tiện in ấn, xuất bản, phát hành hiện đại, các thế hệ những người làm công tác xuất bản, in, phát hành trong cả nước đã gửi đến nhiều thế hệ bạn đọc trong nước và quốc tế về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến và thời kỳ hoà bình, đổi mới và hội nhập quốc tế. Thông qua những cuốn sách, tờ báo, ngành xuất bản, in, phát hành đã góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, nâng cao nhận thức, dân trí, đạo đức và lối sống cho nhiều thế hệ người đọc suốt 55 năm qua.
9. Tổng kết 8 năm thi hành Luật Báo chí.
Thực tiễn 8 năm ban hành, Luật Báo chí sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã tạo thuận lợi cho hoạt động báo chí có những bước phát triển vượt bậc cả về chất và lượng. Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của nhân dân được đảm bảo và phát huy trong khuôn khổ Hiến pháp và luật định.
Tuy nhiên, bên cạnh đó Luật Báo chí sửa đổi cũng bộc lộ một số bất cập trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, khi hoạt động báo chí đang có những bước phát triển mới. Vì vậy, để bổ sung Luật Báo chí hiện hành nhằm khắc phục những mặt chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được yêu cầu đồng thời tạo hành lang pháp lý hoàn ch?nh cho hoạt động báo chí, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức Hội nghị tổng kết 8 năm thi hành Luật Báo chí với sự tham gia của đông đảo các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan báo chí và các tổ chức có liên quan đến hoạt động báo chí.
10. Giảm giá cước và công khai chất lượng các dịch vụ viễn thông.
Trong bối cảnh giá cả hàng hoá và dịch vụ trên thị trường tiếp tục tăng cao, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Thông tin và Truyền thông, các doanh nghiệp viễn thông trên cơ sở nâng cao hiệu quả SXKD đã đồng loạt giảm mạnh các giá cước điện thoại quốc tế, thuê kênh, di động từ 15% đến 50%, góp phần bình ổn giá, phát triển sản xuất và giảm chi tiêu cho người sử dụng dịch vụ viễn thông.
Năm 2007 là năm đầu tiên Cục Quản lý chất lượng BCVT-CNTT chính thức công khai chất lượng dịch vụ di động và Internet của các nhà khai thác viễn thông. Động thái này đã giúp doanh nghiệp có nhận thức và hành động cụ thể nâng cao chất lượng dịch vụ theo tiêu chuẩn quy định, góp phần bảo vệ quyền lợi người sử dụng dịch vụ viễn thông.
5 VẤN ĐỀ TỒN TẠI
TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG NĂM 2007
1- Nạn trộm, cắt cáp ngầm trên biển và những bất cập trong việc quản lý các công trình BCVT.
Trong năm 2007 do chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của các hệ thống cáp biển, nhiều ngư dân khai thác cáp biển cũ đã làm đứt tuyến cáp quang biển Việt Nam Thái Lan Hồng Kông (TVH) đe doạ đến tuyến cáp quang biển quốc tế SME3 và an toàn viễn thông quốc tế của Việt Nam. Trước nguy cơ xâm hại các tuyến cáp quang biển đang hoạt động và theo đề nghị của Bộ Thông tin và Truyền thông, ngày 13/12/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 30/2007/CT-TTg về việc tăng cường bảo vệ các tuyến cáp viễn thông ngầm trên biển và đảm bảo an toàn viễn thông quốc tế. Trong năm 2008 Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ phối hợp các bộ, ngành, địa phương để triển khai đầy đủ và đồng bộ các nội dung của Chỉ thị.
2. Tình trạng in lậu sách, băng, đĩa lậu vẫn chưa được ngăn chặn có hiệu quả.
Mặc dù Thanh tra Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với các cơ quan, ban ngành, tổ chức nhiều đoàn thanh tra liên ngành, phát hiện nhiều vụ in lậu sách, nhưng tình trạng sách in lậu, in nhái, in nối bản, băng đĩa lậu vẫn tồn tại và biến tướng dưới nhiều hình thức. Các cuốn sách, băng, đĩa càng bán chạy thì tỷ lệ in lậu càng nhiều. Thậm chí một số sách chưa phát hành nhưng đã bị in lậu tràn lan trên thị trường và mạng Internet.
3. Gia tăng tội phạm mạng thông qua các hình thức lừa đảo tài chính và cung cấp các nội dung thông tin độc hại trên mạng.
Cùng với sự phát triển và thâm nhập ngày càng mạnh của Internet vào đời sống xã hội, nhiều vụ lừa đảo tài chính qua mạng và phát tán thông tin không lành mạnh đã bị phát hiện. Hàng ngàn người dân đã bị thiệt hại tài chính khi trở thành nạn nhân của những vụ lừa đảo tài chính qua mạng, điển hình là vụ lừa đảo của tập đoàn Colony Invest. Bên cạnh đó, nhiều phim, ảnh có nội dung vi phạm đạo đức thuần phong mỹ tục được đưa lên và phát tán rộng rãi trên Internet đã gây bức xúc trong xã hội, đồng thời khiến dư luận lo ngại về những mặt trái của các dịch vụ trực tuyến trên mạng.
4. Tình trạng phát triển thuê bao ảo trong lĩnh vực thông tin di động.
Để cạnh tranh thu hút khách hàng, nhiều mạng di động đã đưa ra các chương trình khuyến mãi gây sốc như: nhân đôi, nhân ba tài khoản cho khách hàng và đã gây ra hiện tượng mua sim mới thay cho nạp thẻ cào dẫn đến hậu quả gia tăng số thuê bao ảo. Để giải quyết vấn đề này, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có quyết định áp dụng phương án cấp mã mạng mới theo phương án đa mã mạng nhằm bảo vệ quyền lợi người sử dụng dịch vụ đồng thời quy định hiệu suất sử dụng kho số tối thiểu là 65% và triển khai đề án quản lý thuê bao di động trả trước từ ngày 01/01/2008.
5. Chiến lược, cơ chế, chính sách đào tạo nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao chậm được ban hành.
Thiếu nguồn nhân lực CNTT chất lượng đang là vấn đề cấp thiết, đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành CNTT. Nhằm nhanh chóng phát triển nhân lực CNTT đáp ứng nhu cầu của xã hội, ngày 26/10/2007, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã ký Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin Việt Nam đến năm 2020. Cùng với quy hoạch này, Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Giáo dục và Đào tạo đang phối hợp xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nguồn nhân lực CNTT để trình Chính phủ thông qua. Tuy nhiên, tiến độ xây dựng cơ chế chính sách phát triển nguồn nhân lực này đến nay đã chậm, trong khi nhu cầu nhân lực CNTT có trình độ đang là yêu cầu bức xúc của xã hội./.
 
In bài
Các tin khác
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2008

Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2008

Tình hình kinh tế - xã hội năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch thương mại-dịch vụ tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo kết quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư tháng 9 và tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình điều hành bình ổn thị trường trong nước và xuất nhập khẩu tháng 8 năm 2008
Báo cáo về điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và tỷ giá tháng 8/2008
Báo cáo tình hình thực hiện chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát 8 tháng đầu năm
Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội tháng 8 năm 2008
Báo cáo đầu tư nước ngoài tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2008
Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2008
Báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2008
Báo cáo đầu tư nước ngoài tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2008
Báo cáo kết quả sản xuất-kinh doanh, dịch vụ và đầu tư tháng 7 và tình hình KT-XH 7 tháng năm 2008
Tình hình điều hành kinh tế vĩ mô tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2008, các giải pháp chủ yếu trong 6 tháng cuối năm
Tình hình kinh tế-xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2008 và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP của Chính phủ
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2008
Báo cáo bổ sung tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và triển khai kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2008
Tổng hợp tình hình Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008 của Văn phòng Chính phủ
Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2007 và mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu năm 2008 của ngành xây dựng
Báo cáo Tổng kết công tác năm 2007, triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2008 của Bộ Giao thông vận tải
Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH, an ninh, quốc phòng năm 2007 và kế hoạch năm 2008 của Thành phố Hà Nội
Kết quả năm 2007 và kế hoạch phát triển công nghiệp, thương mại năm 2008
Báo cáo tổng kết năm 2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008 của Tổng Công ty Thép Việt Nam
Báo cáo triển khai kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2008
Kế hoạch phát triển sự nghiệp Y tế năm 2008
Báo cáo tổng kết công tác thông tin và truyền thông năm 2007 và Chương trình công tác năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2008
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Quyền Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.