Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2008

Báo cáo triển khai kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2008
04/08/2010 11:26:00

BÁO CÁO
Triển khai kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2008
Năm 2008 là năm thứ 3 triển khai kế hoạch 5 năm 2006-2010, năm có vị trí hết sức quan trọng, nhằm tạo đà cho việc thực hiện đạt và vượt kế hoạch 5 năm trước thời hạn. Để các địa phương, các doanh nghiệp và các đơn vị thuộc ngành chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu kế hoạch năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xin nêu một số kết quả đạt được trong năm 2007 và các chương trình chủ yếu cần triển khai trong năm 2008 như sau:
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SẢN XUẤT TOÀN NGÀNH NĂM 2007
Nông nghiệp, nông thôn nước ta triển khai thực hiện kế hoạch năm 2007 với nhiều khó khăn, thuận lợi đan xen lẫn nhau. Thuận lợi cơ bản là tiếp tục nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước cả về chủ trương đường lối và các nguồn lực, hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo nhiều điều kiện cho phát triển nông nghiệp. Khó khăn lớn nhất đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn năm 2007 là thời tiết diễn biến phức tạp, vụ Đông xuân ở miền Bắc ấm bất thường, hạn hán, bão, lũ và dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, sâu bệnh cây trồng phát sinh trên diện rộng, giá cả vật tư nông nghiệp tăng cao... Tuy nhiên, với những kinh nghiệm tổ chức, quản lý, điều hành, nỗ lực to lớn của cả hệ thống chính trị, bà con nông dân cả nước, nên nông nghiệp và nông thôn nước ta tiếp tục duy trì được tốc độ phát triển theo chiều hướng tích cực.
Năm 2007, tổng sản phẩm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản theo giá thực tế đạt 231.282 tỷ đồng, chiếm 20,23% trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân (sản xuất nông nghiệp 15,18%; lâm nghiệp 1,05% và thủy sản đạt 4%). Theo giá so sánh 1994, tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 82.090 tỷ đồng, tăng 3,4% so với năm 2006, tăng trưởng của toàn ngành đã đóng góp 0,61 điểm phần trăm cho tăng trưởng chung của nền kinh tế.
I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU VỀ SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước năm 2007 theo giá so sánh năm 1994 đạt 199.977 tỷ đồng, tăng 4,6% so với năm 2006. Trong đó, nông nghiệp tăng 2,9%; lâm nghiệp tăng 1% và thủy sản tăng 11%.
1. Nông nghiệp
Năm 2007, tuy có nhiều khó khăn về thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, nhưng nông nghiệp nước ta tiếp tục có bước chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu của thị trường, có giá trị và hiệu quả.
Trong ngành trồng trọt: năm 2007 tăng trưởng 2,4% so với năm 2006. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 39,98 triệu tấn.
Diện tích gieo trồng lúa cả năm đạt 7,201 triệu ha, giảm 125 ngàn ha so với năm trước. Tuy diện tích lúa giảm nhưng năng suất tăng 1,8% đạt 49,8 tạ/ha nên sản lượng vẫn đạt 35,87 triệu tấn lúa.
Diện tích ngô 1,068 triệu ha, tăng 4%; năng suất trung bình 38,5 tạ/ha, tăng 4,1%; sản lượng 4,1 triệu tấn, tăng 8,2%.
Sản xuất cây công nghiệp lâu năm tăng trưởng khá: Hồ tiêu đạt 90,3 ngàn tấn, tăng 14,4%; Điều đạt 301,9 ngàn tấn, tăng 10,5%; Chè đạt 704,9 ngàn tấn, tăng 8,6%; Cao su đạt 801,7 ngàn tấn, tăng 8,3%. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về khuyến khích phát triển Cao su, nên diện tích năm 2007 đã đạt 549,6 ngàn ha, tăng 27,4 ngàn ha so với năm 2006. Tổng diện tích cây công nghiệp lâu năm đạt trên 1,8 triệu ha, tăng 74,9 ngàn ha so với năm 2006.
Một số cây ăn quả có nhu cầu của thị trường, nhất là các cây đặc sản có giá trị kinh tế cao phát triển mạnh theo hướng hàng hóa tập trung nên tổng diện tích cây ăn quả năm 2007 ước đạt 775,5 ngàn ha, tăng khoảng 4,1 ngàn ha.
Trong chăn nuôi:mặc dù dịch cúm gia cầm, LMLM, lợn tai xanh diễn ra trên diện rộng, nhưng do chỉ đạo quyết liệt của các cấp các ngành và kinh nghiệm chống dịch nên chăn nuôi tiếp tục phát triển khá, tỷ trọng trong cơ cấu nông nghiệp từ 22% năm 2005 lên 24% năm 2007.
Theo kết quả điều tra ngày 1/8/2007 cả nước có 6,73 triệu con bò, tăng 3,3% so với năm 2006; gần 3 triệu con trâu, tăng 2,6%; 226,0 triệu con gia cầm, tăng 5,3%. Riêng đàn lợn, do giá thức ăn chăn nuôi tăng cao lại bị dịch LMLM, lợn tai xanh xảy ra trên diện rộng nên đàn lợn giảm, đạt 26,6 triệu con, giảm 1,1% so với năm 2006. Sản lượng thịt hơi các loại ước đạt 3,83 triệu tấn, tăng so với năm 2006 khoảng 12,6%.
2. Thủy sản
Năm 2007 kinh tế thủy sản chuyển biến tích cực trên cả hai hướng khai thác và nuôi trồng. Các địa phương đã tập trung phát triển nuôi trồng theo chiều sâu, xác định đối tượng nuôi, phương thức nuôi, quản lý môi trường nuôi phù hợp từng vùng, áp dụng công nghệ nuôi bền vững. Công tác quản lý môi trường và phòng ngừa dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản đã có chuyển biến. Bộ và địa phương chỉ đạo tốt việc tổ chức lại sản xuất trong khai thác hải sản.Do vậy, giá trị sản xuất thủy sản năm 2007 theo giá so sánh năm 1994 ước đạt 46.663 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2006. Trong đó, nuôi trồng 30.181 tỷ đồng, tăng 16,5%; khai thác 16.482 tỷ đồng, tăng 2,1%.
Sản lượng thủy sản cả năm đạt 4,15 triệu tấn, tăng 11,5% so với năm 2006, trong đó nuôi trồng 2,1 triệu tấn, tăng 23,1%; khai thác 2,06 triệu tấn, tăng 1,8%.
Trong năm 2007, cả nước mở thêm 15.600 ha nuôi trồng thủy sản, đưa tổng diện tích đạt khoảng 1,065 triệu ha (kể cả diện tích nuôi trồng thủy sản kết hợp với trồng lúa khoảng 65.600 ha).
Bộ đã chỉ đạo gắn khai thác hải sản với dự báo ngư trường, sắp xếp lại khai thác hải sản với xây dựng đội tổ khai thác hải sản, tăng cường quản lý, thông tin tàu thuyền. Nhiều mô hình sản xuất theo tổ, đội đã được thử nghiệm như Đà Nẵng, Bình Định, Quảng Nam... cho kết quả tốt, tăng hiệu quả sản xuất. Giữa các tàu đã có thể hỗ trợ, giúp nhau khi gặp khó khăn, tai nạn trên biển.
Các Viện nghiên cứu, Trung tâm quan trắc và cảnh báo môi trường thực hiện khảo sát, phân tích, dự báo môi trường Ở các vùng nuôi trọng điểm, giúp ngư dân và người nuôi chọn thời điểm thả giống, kịp thời xử lý môi trường nước, hạn chế dịch bệnh phát sinh.
3. Lâm nghiệp
Trong năm 2007 tiếp tục thực hiện chương rình xã hội hoá công tác bảo vệ và phát triển rừng. Năm 2007, giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá so sánh 1994 ước đạt 6.503 tỷ đồng, tăng 1,0% so với năm 2006. Trồng rừng tập trung 202,6 ngàn ha, tăng 1,0%, trong đó rừng sản xuất 165 nghìn ha; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung rừng 969,3 ngàn ha, tăng 1,2%; khoán quản lý bảo vệ rừng 1,52 triệu ha; khai thác 3,26 triệu m3 gỗ, tăng 2,2%, trong đó 80% là khai thác từ rừng trồng.
Diện tích rừng cả nước năm 2007 ước đạt gần 12,85 triệu ha, tăng 311 ngàn ha so với 2006, nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 37,9% năm trước lên 38,8% năm 2007.
Về kiểm lâm, đã triển khai đưa trên 4.000 kiểm lâm viên về phụ trách địa bàn, giúp chính quyền địa phương bảo vệ rừng tốt hơn. Hướng dẫn các địa phương thực hiện tốt công tác phòng chống cháy rừng mùa khô và phát triển nghề rừng trên lâm phần được giao. Thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát bán buôn động vật, thực vật hoang dã, quản lý chặt chẽ gây nuôi, trồng cấy nhân tạo động vật, thực vật hoang dã, hạn chế tình trạng khai thác từ tự nhiên. Công tác phòng chống cháy rừng, tổ chức tập huấn nghiệp vụ, tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân, kiện toàn, nâng cao năng lực cho hệ thống kiểm lâm, có kế hoạch chủ động ngay từ đầu năm.
Về công tác chống chặt phá rừng, đã được các cấp chính quyền địa phương tập trung chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tại các điểm nóng về khai thác rừng, phá rừng trái phép. Do đó, số vụ vi phạm lâm luật giảm so với năm 2006. Trong năm đã xẩy ra 32.156 vụ vi phạm lâm luật, giảm 6.034 vụ; trong đó 1.063 vụ phá rừng, giảm 165 vụ; phá rừng làm rẫy 2.141 vụ, giảm 995 vụ; khai thác lâm sản trái phép 3.708 vụ, giảm 331vụ, có 988 vụ vi phạm về quản lý động vật hoang dã.
Về cháy rừng trong năm xảy ra 749 vụ, tăng so với năm 2006 là 216 vụ, với tổng diện tích thiệt hại 4.188 ha.
4. Diêm nghiệp và công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, ngành nghề nông thôn
4.1. Về sản xuất muối
Do được giá muối ngay từ đầu năm nên bà con diêm dân đã mở thêm diện tích sản xuất muối. Theo báo cáo của các địa phương diện tích muối cả nước năm 2007 đạt 12.240 ha, tăng 7% và sản lượng ước đạt 900 nghìn tấn, tăng 12% so với năm 2006.
4.2. Về sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản
Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản có bước phát triển khá, tỷ trọng công nghiệp và địch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn tăng dần, ước tính năm 2007 đạt khoảng trên 40%.
Trong năm 2007, phần lớn các cơ sở công nghiệp chế biến đã quan tâm đến đầu tư vùng nguyên liệu, tăng cường công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ. Các cơ sở công nghiệp chế biến thuỷ sản tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng, đổi mới trang thiết bị theo hướng nâng cao chất lượng và đa dạng hoá sản phẩm, hiện có 245/470 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường EU. Theo đánh giá của các địa phương tốc độ tăng giá trị sản lượng công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản đạt 15%. Riêng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực dân doanh tăng 27,4%.
Hầu hết các khâu sản xuất, chế biến nông, lâm, muối, thủy sản, xây dựng các công trình thuỷ lợi đều được cơ giới hoá, nhiều khâu tỷ lệ cơ giới hoá khá cao. Đến năm 2007 tỷ lệ cơ giới hóa khâu tưới tiêu nước trên 85%, làm đất trên 70%, tuốt lúa trên 83,6%, phát triển mạnh máy gặt đập liên hợp phục vụ thu hoạch lúa ĐBSCL, vận chuyển 75%, xay xát 95%, tổng công suất tàu thuyền đánh bắt đạt trên 4 triệu mã lực, các khâu thi công các công trình thuỷ lợi đã được cơ giới hoá 100%.
5. Đầu tư phát triển thuỷ lợi phục vụ thâm canh, nâng cao chất lượng sản phẩm nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Năm 2007 Nhà nước ưu tiên đặc biệt cho đầu tư phát triển thuỷ lợi, ngoài nguồn vốn ngân sách theo kế hoạch hàng năm, được cân đối bố trí gần 3 nghìn tỷ đồng từ nguồn trái phiếu Chính phủ. Đồng thời, trong những năm vừa qua kiên quyết thực hiện chủ trương tập trung hoàn thành dứt điểm các công trình dở dang đưa vào khai thác; các địa phương cũng dồn sức cho các công trình thuỷ lợi. Do đó, năm 2007 đưa được 12 công trình vào khai thác. Nhờ vậy, năm 2007 diện tích lúa được tưới đạt khoảng 6,85 triệu ha, vượt kế hoạch 200 nghìn ha; diện tích rau màu và cây công nghiệp 1 ,49 triệu ha; đảm bảo tiêu thoát nước cho 1,71 triệu ha đất nông nghiệp; ngăn mặn 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha; góp.phần đáng kể vào việc tăng năng suất, sản lượng và chất lượng các loại cây trồng.
Về việc triển khai thực hiện công tác đê điều và phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai. Tập trung chỉ đạo đôn đốc các tỉnh, thành phố Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa khẩn trương khôi phục, sửa chữa đê biển bị hư hại do mưa bão năm 2006 và đã hoàn thành trước mùa mưa bão. Năm 2007, triển khai thực hiện kế hoạch tu bổ đê với 25 dự án, được giao 160 tỷ đồng, kết quả thực hiện đào đắp được 1,92 triệu m3 đất, 40 nghìn m3 bê tông, khoan phụt vữa gia cố đê 14,4 km. Thực hiện kế hoạch duy tu bảo dưỡng đê thường xuyên được triển khai trên 19 tỉnh, thành phố, thực hiện được: đất đào đắp 210.000 m3, bê tông 11.000 m3, trồng tre chắn sóng 30.000 cụm,...
Đôn đốc các địa phương xử lý khẩn cấp một số kè bị sạt lở nghiêm trọng hoàn thành trước mùa mưa lũ bằng nguồn vốn sự nghiệp như: kè Kim Sơn (Hải Phòng), kè Cống Chùa (Nam Định), kè Vĩnh Linh - Vĩnh Lộc (Thanh Hoá).
Tiến hành rà soát lại quy hoạch thuỷ lợi trong toàn quốc; quy hoạch hệ thống thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản; quy hoạch thủy lợi kiểm soát lũ cho TP.Hồ Chí Minh. Phối hợp với các Bộ, Ngành xây dựng Quy trình vận hành các hồ chứa đáp ứng đa mục tiêu. Xây dựng thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định 254/2007/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ-CP, trong đó có việc thực hiện miễn thuỷ lợi phí và quản lý công lính thuỷ lợi sau khi miễn thuỷ lợi phí cho nông dân.
II. TIÊU THỤ NÔNG, LÂM, THỦY SẢN
1. Thị trường nông lâm sản trong nước khá thuận lợi
Năm 2007, nhìn chung việc tiêu thụ nông sản hàng hóa trên thị trường trong nước khá thuận lợi. Giá đa số các loại nông sản ở mức khá cao, có lợi cho người sản xuất. Tại vùng ĐBSCL, giá lúa đạt 3.500 - 3.800đ/kg; vùng ĐBSH, giá lúa đạt 3.800 - 4.500 đ/kg. Giá cao su, cà phê, tiêu, điều, chè, lạc, đậu tương, các loại quả, sản phẩm thuỷ sản và sản phẩm chăn nuôi đều ở mức cao. Phần nhiều doanh nghiệp đã triển khai tốt việc ký kết hợp đồng tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản,...với nông dân; các hợp tác xã, tổ hợp tác đã thực hiện tốt việc dịch vụ về tiêu thụ sản phẩm cho xã viên.
2. Về xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản
Xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản năm 2007 tăng mạnh so với năm 2006. Tổng kim ngạch cả năm ước đạt 12.5 tỷ USD, tăng 20,6% so với năm 2006 (nông, lâm sản 8,7 tỷ USD, thủy sản 3,8 tỷ USD), vượt mục tiêu đề ra cho năm 2010 là 1,5 tỷ USD.
Kết quả cụ thể một số mặt hàng chủ yếu như sau:
- Gạo đạt 4,5 triệu tấn, kim ngạch 1,46 tỷ USD; giảm 3,1% về lượng và tăng 13,9% về giá trị so với năm 2006.
- Cà phê: đạt 1,2 triệu tấn, kim ngạch 1,86 tỷ USD; tăng 21,8% về lượng và 52,3% về giá trị.
- Cao su: đạt 719 ngàn tấn; kim ngạch 1,4 tỷ USD, tăng 1,6% về lượng và 8,8% về giá trị.
- Hạt điều: đạt 153 ngàn tấn; kim ngạch 649 triệu USD; tăng 20,4% về lượng và 28,9% về giá trị.
- Chè: đạt 114 ngàn tấn, kim ngạch 131triệu USD; tăng 7,8% về lượng và 18,4% về giá trị.
- Rau quả: kim ngạch đạt 299 triệu USD, tăng 15,4%.
- Hạt tiêu: đạt 86 ngàn tấn, kim ngạch 282 triệu USD; về lượng giảm 26,6%, nhưng tăng về giá trị tới 47,8%.
- Sản phẩm gỗ: kim ngạch đạt 2,364 tỷ USD, tăng 22,3%.
- Sản phẩm mây, tre, thảm: kim ngạch đạt 218 triệu USD, tăng 13,6%.
- Thuỷ sản: kim ngạch đạt 3,8 tỷ USD, tăng 12,9%.
III. VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
- Công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ, nhất là làng nghề truyền thống có bước phát triển nhanh. Hiện cả nước có 2.197 làng nghề, với khoảng 1,423 triệu hộ (theo tiêu chí mỗi làng có trên 20% số hộ làm nghề), thu hút trên 1,5 triệu lao động. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ của làng nghề tăng từ 235 triệu USD năm 2001 lên 700 triệu USD năm 2007.
- Quan hệ sản xuất tiếp tục được đổi mới: Kinh tế hộ có bước phát triển, quy mô được mở rộng, hiện có 83 nghìn hộ sản xuất theo hình thức trang trại; năm 2007 thành lập mới được 200 HTX, đưa số HTX đến năm 2007 cả nước có 8.320 HTX hoạt đồng trong lĩnh vực nông nghiệp. Nông lâm trường quốc doanh và doanh nghiệp nhà nước đang được sắp xếp lại theo hướng chuyển mạnh sang công ty cổ phần và nâng cao năng lực của doanh nghiệp nhà nước.
- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tiếp tục đầu tư phát triển, nhất là về thủy lợi. Đồng thời hệ thống các cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước ở các vùng nông thôn cũng đã được cải thiện rõ rệt, tới năm 2006 đã có 99% số xã, 92,8% số thôn có điện và tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng điện đã lên tới 93,3%; 96,7% số xã có đường ôtô tới khu trung tâm, trong đó 42,6% số xã có đường liên thôn được trải nhựa, bê tông hoá trên 50%.
- Về quy hoạch và điều chỉnh dân cư: Tổng kết 15 năm (1990 - 2005) công tác tái định cư các dự án thuỷ điện lớn; triển khai các dự án di dân khẩn cấp; đôn đốc các địa phương xây dựng dự án quy hoạch bố trí dân cư đến năm 2010. Trong năm 2007 được Nhà nước giao 550 tỷ đồng, trong đó 400 tỷ cho đầu tư phát triển và 150 tỷ đồng sự nghiệp kinh tế. Các địa phương đã tập trung thực hiện bố trí lại dân cư tại các vùng có nguy cơ cao về thiên tai (sạt, lở, lũ quét, lũ ống,...) và những vùng đặc biệt khó khăn (thiếu đất sản xuất, thiếu nước, cơ sở hạ tầng,...). Trong năm đã thực hiện bố trí dân cư cho 15.000 hộ. Triển khai lập các dự án ổn định dân cư các xã biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia. Hướng dẫn các địa phương tổng hợp tình hình, xây dựng dự án thực hiện nhiệm vụ di dân khẩn cấp ở những vùng bị thiên tai, các vườn quốc gia, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Chỉ đạo các địa phương thực hiện các biện pháp ổn định dân cư, hạn chế di cư tự do, nhất là các tỉnh trọng điểm Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, Lai Châu, Tuyên Quang.
- Về công tác di dân Thuỷ điện Sơn La: đã phê duyệt quy hoạch chi tiết 66 khu với 185 điểm, dung nạp 15.569/19.669 hộ đạt 79% số hộ phải di dời. Tổ chức thống kê đền bù, lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư (bao gồm các hộ tái định cư và hộ sở tại bị ảnh hưởng) là 22.548 hộ; đã di chuyển được 8.468/19.669 hộ đạt 43% số hộ phải di chuyển; các tỉnh đã giải ngân1.804/3.681 tỷ đồng, đạt 49% kế hoạch giao 3 năm 2004, 2005 và 2006.
- Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường đã đạt được những kết quả khả quan: Đã đầu tư nâng cấp, sửa chữa và xây dựng mới được khoảng 260.000 công trình cấp nước, trong đó có khoảng 1.800 công trình cấp nước tập trung, nâng tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đến cuối năm 2007 đạt khoảng 70%. Đã làm mới được khoảng 500.000 nhà tiêu hợp vệ sinh, nâng tỷ lệ hộ gia đình nông thôn có sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đạt khoảng 51%.
- Tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn năm 2006 còn 18% theo tiêu chí mới, ước năm 2007 còn khoảng 16%. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê về Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản, năm 2006 thu nhập bình quân một hộ nông thôn đạt 26,1 triệu đồng, tăng 11,3 triệu đồng (tăng 75,8%) so với năm 2002; ước năm 2007 đạt khoảng 29-30 triệu đồng/hộ/năm.
IV. ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
Năm 2007, nguồn vốn XDCB nhà nước giao cho Bộ quản lý là 5.417,47 tỷ đồng (Bộ Nông nghiệp và PTNT cũ quản lý 5.183,97 tỷ đồng, Bộ Thuỷ sản cũ quản lý 233,5 tỷ đồng), trong đó:
Vốn trong nước: 1.493,27 tỷ đồng
Vốn ngoài nước: 933,2 tỷ đồng
Vốn trái phiếu Chính phủ: 2.991,0 tỷ đồng
Kết quả thực hiện cả năm đạt 5.414 tỷ đồng, trong đó :
Ngân sách tập trung đạt 2.829 tỷ đồng, đạt 117% KH gồm:
Thuỷ lợi: thực hiện1.932 tỷ đồng, đạt 151% KH
Nông nghiệp: thực hiện 229 tỷ đồng, đạt 77% KH
Lâm nghiệp: thực hiện 292 tỷ đồng, đạt 139% KH
Thuỷ sản: thực hiện 214,2 tỷ đồng, đạt 91,7% KH
Các ngành khác: Ước thực hiện khối KHCN đạt 97%; Giáo dục 106%; Chương trình mục tiêu 75%; Thiết kế QH 100; Chuẩn bị đầu tư 117%.
Trái phiếu Chính phủ thực hiện được 2.585 tỷ đồng, đạt 86% KH.
Nhìn một cách tổng quát năm 2007, tuy có nhiều khó khăn, nhưng vẫn duy trì được tốc độ phát triển khá, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, xuất khẩu tăng mạnh, nông thôn tiếp tục phát triển toàn diện, đời sống đa số bà con nông dân tiếp tục được cải thiện, một số chỉ tiêu đã về trước kế hoạch năm 2010 như diện tích cao su, cà phê, khoanh nuôi tái sinh rừng, khai thác thuỷ sản, giá trị kim ngạch xuất khau nông, lâm, thuỷ sản.
Những yếu kém và tồn tại:
Năm 2007, nông nghiệp và nông thôn đạt được nhiều kết quả khá khả quan, nhưng trước những yêu cầu mới đang đặt ra cho nông nghiệp, nông thôn nước ta, một số vấn đề cần phải tiếp tục quan tâm xử lý, đó là:
- Việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn còn chậm. Một số cây trồng, vật nuôi lại phát triển quá nóng, gây tác động xấu tới môi trường và khó bền vững như phát triển trồng sắn, nuôi cá tra.
- Việc thực hiện chủ trương nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông, lâm, thủy sản chưa được nhiều.
- Vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề gây bức xúc trong dư luận xã hội.
- Phát triển cơ sở hạ tầng ở nhiều vùng nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao cuộc sống của người dân, nhất là ở các vùng miền núi. Trong khi đó, giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản chậm, đặc biệt là vốn trái phiếu Chính phủ (chỉ đạt 86% kế hoạch năm).
- Quá trình đổi mới các hình thức sản xuất chuyển biến chậm. Đầu tư tư nhân vào khu vực nông nghiệp, nông thôn còn ít. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp năm 2007 chưa đến 1% so với tổng vốn FDI của cả nước.
- Đời sống một bộ phận nông dân còn nhiều khó khăn, chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa nông thôn và thành thị vẫn còn lớn.
- Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục.
- Nhiệm vụ cải cách hành chính thực hiện chưa được nhiều, nhất là đơn giản hóa các thủ tục, đổi mới tài chính công. Công tác xây dựng và ban hành văn bản QPPL về cơ bản được triển khai toàn diện, nhưng kết quả chưa cao, tiến độ chậm so với kế hoạch, chất lượng chưa cao. Việc thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tuy có một số kết quả bước đầu song vẫn còn nhiều tồn tại, nhiều nơi mang tính hình thức.
Phần thứ hai
TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NĂM 2008
Một số mục tiêu chủ yếu:
1. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng nông, lâm, thủy sản 3,5-4% (trong đó nông nghiệp trên 3%, lâm nghiệp 1,5%, thủy sản 13%); giá trị sản lượng nông, lâm, thủy sản tăng 4,7-4,9%.
2. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Trồng trọt 63%, chăn nuôi 27%, ngành nghề và dịch vụ khác 10%.
3. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản 13,62 tỷ USD.
4. Khoán bảo vệ rừng 2,2 triệu ha, khoanh nuôi tái sinh rừng 740 ngàn ha, trồng rừng tập trung 250 ngàn ha, trong đó trồng rừng sản xuất 200 ngàn ha, chăm sóc rừng trồng 220 ngàn ha, tỷ lệ che phủ rừng 40%.
5. Sản lượng thủy sản 4,6 triệu tấn.
6. Sản lượng muối 1,1 triệu tấn.
7. Tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch 75%.
Nhiệm vụ năm 2008 được nhà nước giao rất nặng nề, đòi hỏi phải có sự tập trung chỉ đạo hết sức quyết liệt của toàn ngành để thực hiện cho được những mục tiêu đề ra, góp phần vào phát triển kinh tế chung của đất nước và cải thiện đời sống nông dân. Nhiệm vụ trọng tâm năm 2008 là tập trung vào đảm bảo thực hiện mục tiêu tăng trưởng; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của nhân dân; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, đào tạo nguồn nhân lực; cải cách thể chế và hành chính; thực hiện nghiêm túc hai Luật Phòng chống tham nhũng và Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhiệm vụ cụ thể là:
I. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG CỦA NGÀNH
I.1 Các chương trình phát triển
1. Chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh.
1.1. Về trồng trọt
Về sản xuất lương thực: Đối với lúa gạo, diện tích hàng năm có thể giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng cho công nghiệp và đô thị hóa, vì vậy năm 2008 giữ khoảng 7,2 triệu ha, năng suất trên 50 tạ/ha, sản lượng 36,4 triệu tấn, tăng 500 ngàn tấn so với năm 2007. Tập trung giải quyết tốt khâu giống, bố trí cơ cấu giống, mùa vụ né tránh sâu bệnh và thời tiết xấu.
Phổ biến các giống ngô mới có năng suất cao, hình thành các vùng sản xuất tập trung. Dự kiến năm 2008 diện tích ngô khoảng 1,1 triệu ha, tăng 32 ngàn ha, chủ yếu tăng vụ Đông ở vùng ĐBSH, Bắc Trung Bộ, ngô xuân trên đất 1 vụ ở miền núi phía Bắc.
Về phát triển các cây công nghiệp: Ổn định 506 ngàn ha cà phê; tiếp tục trồng mới 30 nghìn ha cao su ở nơi có đủ điều kiện về đất đai, khí hậu và cơ sở hạ tầng, để có 630 ngàn ha cao su vào năm 2008; ổn định diện tích chè 125 ngàn ha, thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; trồng mới 10 ngàn ha điều để có 447 nghìn ha; hạt tiêu giữ quy mô như hiện nay 48 nghìn ha; 255 nghìn ha lạc, đưa diện tích mía lên 320 nghìn ha, bố trí 207 ngàn ha đậu tương.
Phát triển rau hoa và cây ăn quả: Trong năm tới tiến hành quy hoạch vùng trồng cây ăn quả tập trung; triển khai thực hiện quy trình sản xuất GAP đối với các cây ăn quả chủ lực, có lợi thế. Dự kiến năm 2008 diện tích cây ăn quả khoảng 800 nghìn ha.
Đầu tư phát triển các vùng rau sản xuất tập trung theo công nghệ sạch, rau chất lượng cao, an toàn vệ sinh thực phẩm. Phát triển măng, nấm, hoa, cây cảnh cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Trước mắt tập trung chỉ đạo việc gieo sạ hết diện tích lúa Đông xuân ở các tỉnh phía Nam; thu hoạch vụ Đông và chuẩn bị các điều kiện cho gieo cấy lúa đông xuân ở các tỉnh phía Bắc; gieo trồng các cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày vụ Xuân.
Chỉ đạo hệ thống bảo vệ thực vật từ Trung ương đến địa phương theo dõi sát tình hình thời tiết, cơ cấu cây trồng, lịch thời vụ để làm tốt công tác dự tính sâu bệnh, phấn đấu dự báo sớm 15-20 ngày, thông tin kịp thời cho nông dân. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chỉ đạo công tác phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng, bảo vệ tốt các vụ sản xuất, không để xảy ra dịch hại nặng trên diện rộng, nhất là các đối tượng: Rầy nâu, vàng lùn-lùn xoắn lá, bệnh đạo ôn, dịch hại trên cây hồ tiêu, cà phê,...
Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan quản lý chặt chẽ nguồn hàng nhập khẩu thuộc diện kiểm dịch thực vật; làm tốt công tác kiểm dịch nội địa.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu, gia công, sản xuất kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam; kiểm soát chặt chẽ dư lượng thuốc BVTV trên các mặt hàng nông sản.
Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến bảo vệ thực vật, kiểm dịch thực vật, thuốc bảo vệ thực vật; thực hiện kế hoạch thanh, kiểm tra chuyên ngành BVTV và chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm.
1.2 Về Chăn nuôi
Phát triển chăn nuôi theo hướng: hiệu quả, bền vững và an toàn thực phẩm, đảm bảo tốc độ tăng trưởng năm 2008 đạt 9,4%. Tổng sản lượng thịt hơi các loại năm 2008 đạt 4,18 triệu tấn, tăng 9,1%; sữa tươi 282 nghìn tấn, tăng 14%; thức ăn chăn nuôi đạt gần 9 triệu tấn, tăng 17,5%.
Trên cơ sở Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, các địa phương tiến hành quy hoạch lại việc tổ chức chăn nuôi trên địa bàn. Quy hoạch các khu chăn nuôi, khuyến khích các hộ, cá nhân mở rộng quy mô sản xuất lớn và vừa theo hình thức gia trại, trang trại, nuôi công nghiệp được đảm bảo các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh, gắn với các cơ sở giết mổ, chế biến tập trung và xử lý chất thải.
Quy hoạch và bố trí diện tích sản xuất cây thức ăn; hướng dẫn người chăn nuôi sử dụng các giống cỏ mới năng suất chất lượng cao, chế biến và dự trữ thức ăn cho mùa khô.
Thường xuyên kiểm tra và tạo điều kiện cho các cơ sở công nghiệp chế biến thức ăn gia súc hoạt động hết công suất, giảm giá thành, đảm bảo chất lượng cung ứng đủ cho nhu cầu phát triển chăn nuôi.
Trước mắt, ngành chăn nuôi tiến hành ngay việc hướng dẫn nông dân áp dụng các biện pháp chăm sóc đàn gia súc, gia cầm trong mùa đông và sau tết Nguyên đán, chủ động tiêm phòng các loại dịch bệnh.
Rút kinh nghiệm của hai năm 2006, 2007, năm 2008 tập trung chỉ đạo thực hiện một số biện pháp phòng trừ dịch bệnh gia súc, gia cầm và thủy sản:
- Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, hướng dẫn nông dân các biện pháp phòng dịch.
- Các địa phương xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng chống dịch bao gồm kế hoạch về tài chính, về tổ chức lực lượng, tập trung cho việc giám sát dịch bệnh và tiêm phòng vắc xin. Tổ chức giám sát tới hộ chăn nuôi xử lý triệt để, nhanh gọn các ổ dịch phát sinh.
- Triển khai các biện pháp đổi mới chăn nuôi, thủy sản, nhất là đối với đàn vịt; quy hoạch vùng chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản tập trung, vùng sản xuất giống, tổ chức giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, thực hiện kiểm soát giết mổ đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.
- Tăng cường mạng lưới thú y cơ sở theo quy định của Pháp lệnh Thú y; đào tạo, tập huấn cho lực lượng này có đủ khả năng phát hiện và xử lý ổ dịch.
- Tập trung quản lý việc ấp nở thủy cầm theo Quyết định số 1405/QĐ-TTg ngày 16/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể về điều kiện ấp trứng gia cầm và chăn nuôi thủy cầm, kiên quyết không để việc ấp nở vịt tràn lan, đóng cửa các lò ấp không đủ điều kiện, kiểm tra các cơ sở quản lý con giống, quản lý được đàn vịt đưa ra khỏi lò, vịt chạy đồng.
- Các địa phương xây dựng và thực hiện kế hoạch tiêm phòng cụ thể bao gồm: cung cấp vắc xin và dụng cụ phục vụ tiêm, lực lượng tiêm, kinh phí tiêm; giao nhiệm vụ chủ đạo của công tác tiêm phòng cho chính quyền cơ sở, tổ chức kiểm tra giám sát chặt chẽ công tác tiêm phòng. Thường xuyên tổ chức việc tiêu độc, khử trùng ở các khu vực buôn bán giết mổ gia cầm và các cơ sở chăn nuôi; kiểm tra chất lượng giống thủy sản, môi trường vùng nuôi.
- Kiểm soát ở biên giới: Ủy ban nhân dân các tỉnh có biên giới tổ chức lực lượng, kết hợp với các Bộ, ngành liên quan kiểm tra gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu, tổ chức tiêu hủy gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu.
- Kiểm soát vận chuyển trong nước: Xử phạt và tiêu hủy gia cầm, sản phẩm gia cầm vận chuyển không có giấy chứng nhận kiểm dịch, không để số gia cầm, sản phẩm gia cầm này vận chuyển quay về.
2. Chương trình phát triển thủy sản theo hướng hiệu quả và bền vững
Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng và đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững. Triển khai thực hiện Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn cung cấp nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu.
Triển khai ngay dự án điều tra nguồn lợi hải sản biển là cơ sở để thực hiện Chương trình khai thác hải sản có hiệu quả gắn với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi, an toàn cho ngư dân. Tổ chức tốt việc tuyên truyền, phổ biến các quy định, pháp luật của các nước liên quan cho ngư dân, chủ yếu là các thuyền trưởng, chủ tàu làm nghề khai thác hải sản, nhất là các tàu khai thác xa bờ. Nhanh chóng đưa hệ thống quản lý thông tin tàu cá trên biển (giai đoạn I) vào hoạt động và xây dựng Dự án quản lý thông tin tàu cá trên biển (giai đoạn II) trên cơ sở hiện đại hóa để phục vụ công việc theo dõi hoạt động của tàu cá trên biển và công tác phòng chống thiên tai.
Cơ cấu lại ngành nghề và ngư trường, phổ biến áp dụng công nghệ phù hợp để giảm giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả khai thác. Sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng đã hoàn thành và xây dựng mới phục vụ khai thác và nuôi trồng thủy sản, nhất là hệ thống thủy lợi, các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, các cảng cá, chợ cá.
Tiếp tục thực hiện chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng về xây dựng các khu trú bão cho ngư dân và tàu thuyền. Có phương án quản lý và thông tin cho các tàu thuyền ra khơi đánh cá để giảm thiểu thiệt hại do bão gây ra.
Dự kiến tổng sản lượng năm 2008 đạt 4,6 triệu tấn, tăng gần 10% so với năm 2007 (vượt mục tiêu năm 2010); trong đó sản lượng nuôi trồng 2,6 triệu tấn, tăng 13,8%; sản lượng khai thác 2,0 triệu tấn.
3. Chương trình phát triển lâm nghiệp
Năm 2008 tiếp tục triển khai mạnh mẽ chủ trương xã hội hóa ngành lâm nghiệp, nâng cao năng lực quản lý bảo vệ rừng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, khuyến khích đầu tư trồng rừng sản xuất và lâm đặc sản, chế biến lâm sản. Tiếp tục hoàn chỉnh việc rà soát quy hoạch 3 loại rừng, triển khai thực hiện việc xác định mốc các loại rừng trên thực địa theo phương án đã được duyệt. Hướng dẫn cơ sở chuyển đổi và quản lý chặt chẽ diện tích rừng phòng hộ sang rừng sản xuất theo quy hoạch. Triển khai thực hiện các cơ chế chính sách phát triển rừng theo Quyết định 100 của Thủ tướng Chính phủ, nhất là chính sách hỗ trợ lương thực để dân bảo vệ và trồng rừng sản xuất. Chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật về trồng rừng, đảm bảo đủ giống có chất lượng cho nông dân và các tổ chức trồng rừng.
Theo hướng đó, năm 2008 ngành lâm nghiệp thực hiện khoán bảo vệ rừng phòng hộ và đặc dụng 2,2 triệu ha, chăm sóc rừng đã trồng 220 nghìn ha, khoanh nuôi tái sinh rừng 740 nghìn ha, trồng mới 250 nghìn ha (trong đó rừng sản xuất 200 nghìn ha, rừng phòng hộ và đặc dụng 50 nghìn ha).
Triển khai hệ thống quản lý bền vững tài nguyên rừng có sự tham gia của người dân. Triển khai tích cực công tác giao rừng, thuê đất rừng cho các hộ gia đình và cộng đồng địa phương với chính sách hưởng lợi phù hợp.
Thực hiện có hiệu quả chương trình quản lý canh tác nương rẫy.
Nâng cao năng lực kiểm lâm, chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng, ngăn chặn các hành vi vi phạm lâm luật.
4. Về diêm nghiệp
Triển khai chương trình nâng cao hiệu quả nghề muối và cải thiện đời sống diêm dân, với các nội dung chủ yếu là: Tăng đầu tư cho khoa học công nghệ; thực hiện lồng ghép các chương trình khuyến công và chương trình mục tiêu giảm nghèo hỗ trợ diêm dân yên tâm sản xuất; cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng các vùng sản xuất muối ăn; đầu tư chiều sâu 5 đồng muối công nghiệp hiện có, thúc đẩy nhanh việc đầu tư dự án muối công nghiệp Quán Thẻ để đưa một phần vào sản xuất. Dự kiến diện tích muối năm 2008 khoảng 14.500ha, sản lượng 1,1 triệu tấn.
5. Về phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và ngành nghề nông thôn
- Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản để tạo thị trường tiêu thụ ổn định cho dân và tăng nhanh giá trị sản phẩm nông nghiệp. Trước hết, tập trung vào những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, có thế mạnh cạnh tranh quốc tế, đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn cho đất nước như gạo, cà phê, cao su, điều, chè, hạt tiêu, rau quả, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng không thấp hơn 14%/năm.
Đối với chế biến thủy sản, tập trung vào khâu quản lý chất lượng nguyên liệu và sản phẩm chế biến, như thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm tình trạng bảo quản thủy hải sản chưa đúng quy định. Chỉ đạo các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, mở rộng, đổi mới trang thiết bị theo hướng tăng cường chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm, để đưa nhanh và nhiều cơ sở chế biến đạt tiêu chuẩn vào thị trường EU.
Đối với chế biến lâm sản, tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ ở các cơ sở chế biến lâm sản hiện có,đồng thời tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ các cơ sở công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ; duy trì và phát triển các cơ sở chế biến lâm đặc sản, nhựa thông, cánh kiến, quế, hồi...
- Thực hiện Chương trình "Mỗi làng một nghề", có chính sách hỗ trợ tích cực để khôi phục và phát triển các làng nghề.
- Thực hiện xã hội hóa dịch vụ ở nông thôn, thu hút sự tham gia của mọi thành phần kinh tế để đảm bảo cung cấp các dịch vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân nông thôn. Phát triển hệ thống khuyến nông, dịch vụ thủy nông, thú y, bảo vệ thực vật, thông tin liên lạc, văn hóa, xã hội, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm... để đến năm 2008 tạo ra khoảng 20% GDP nông thôn.
6. Phát triển thị trường thúc đẩy xuất khẩu góp phần khuyến khích phát triển sản xuất
Hỗ trợ và hướng dẫn các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản; phối hợp với các địa phương tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại; xây dựng và quản lý chất lượng nông sản hàng hóa, hướng dẫn các doanh nghiệp đăng ký và bảo vệ thương hiệu hàng hóa.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2008 dự kiến 13,62 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2007, trong đó các mặt hàng nông sản 6,6 tỷ USD, tăng 7,8%; lâm sản 2,5 tỷ USD, tăng 5,9%; thủy sản 4,52 tỷ USD tăng 19,2%.
I.2. Các giải pháp
1. Thống nhất quản lý quy hoạch ngành Nông nghiệp và PTNT, đảm bảo phát triển bền vững, chất lượng, hiệu quả.
- Quy hoạch lại sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản, thủy lợi trên phạm vi cả nước và từng vùng, theo hướng khai thác tối đa lợi thế của từng vùng, phát triển đa ngành sản xuất trên cơ sở hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển thống nhất trong một ngành quản lý.
- Rà soát lại các quy trình, quy chế để hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện. Ngành thủy sản nghiên cứu ban hành quy chế quản lý quy hoạch vùng nuôi bền vững.
2. Tập trung tăng cường công tác nghiên cứu và chuyển giao KHCN
Tiếp tục triển khai thực hiện đề án sắp xếp khối nghiên cứu khoa học thuộc Bộ. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học; gắn kết các nhà khoa học với doanh nghiệp và nông dân. Thực hiện các phương án chuyển đổi cơ chế hoạt động theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP. Khắc phục chậm trễ trong xét duyệt đề cương, dự toán các đề tài, đảm bảo triển khai ngay từ đầu năm. Đổi mới mạnh mẽ công tác khuyến nông do Bộ chỉ đạo theo chương trình, dự án gắn với sản phẩm cụ thể, chống tình trạng ăn đong; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để các dự án khuyến nông có hiệu quả.
Trong năm tới, công tác khoa học công nghệ nông nghiệp của Bộ tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao phù hợp với các vùng sinh thái, thực hiện tốt chương trình công nghệ sinh học để có kết quả ứng dụng trong thời gian tới, đồng thời áp dụng kết quả công nghệ sinh học đã có; các biện pháp kỹ thuật thâm canh cây trồng, nuôi dưỡng gia súc, đảm bảo chất lượng vệ sinh, an toàn thực phẩm, hạ giá thành. Trong thủy sản ứng dụng và chuyển giao công nghệ, chú trọng công nghệ sản xuất các loài giống thủy sản có giá trị kinh tế để hình thành cơ cấu sản phẩm chủ lực gắn với bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản. Nghiên cứu và phát triển công nghệ sau thu hoạch. Nâng cao hiệu quả của hệ thống khuyến nông và các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, thông tin thị trường.
3. Thực hiện Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm
- Triển khai thực hiện kế hoạch hành động quốc gia của Chính phủ và Bộ về vệ sinh an toàn thực phẩm đến năm 2010; phổ biển áp dụng GAP tại các vùng sản xuất rau trọng điểm, hướng dẫn và tập huấn kỹ thuật cho nông dân về sản xuất rau an toàn, xây dựng các mô hình sản xuất rau an toàn theo GAP tại tất cả các tỉnh. Thực hiện thường xuyên và quyết liệt việc kiểm tra, kiểm soát ô nhiễm về sinh vật và hóa chất tồn dư trong nông sản thực phẩm; quản lý chặt chẽ việc nhập khẩu, buôn bán thuốc BVTV.
- Xây dựng và triển khai thực hiện chương trình kiểm tra điều kiện vệ sinh thú y các cơ sở chăn nuôi, sản xuất thức ăn chăn nuôi, giết mổ, sơ chế sản phẩm động vật và kiểm soát chất tồn dư, vi sinh vật gây hại đối với sản phẩm động vật.
- Tiến hành thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm tình trạng tiêm chích và ngâm nước vào nguyên liệu tôm, lạm dụng hóa chất tăng trọng, kháng sinh quá mức cho phép đối với cá tra, ba sa, các đối tượng khác và hóa chất bảo quản hải sản.
4. Tăng cường chỉ đạo công tác đổi mới tổ chức sản xuất nông, lâm, thủy sản
Hướng dẫn nông dân đầu tư phát triển các loại sản phẩm theo đúng quy hoạch và nhu cầu thị trường. Triển khai các chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát triển doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn, gắn với hình thành các hợp tác xã làm dịch vụ.
Tăng cường công tác quản lý doanh nghiệp, hoàn tất các thủ tục chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước sang Công ty cổ phần, kể cả một số doanh nghiệp thuộc các Viện nghiên cứu, Trường đào tạo. Trong năm 2008, quyết định cổ phần hóa 10 Tổng công ty; lựa chọn các doanh nghiệp trực thuộc các Viện nghiên cứu và Trường đào tạo để xây dựng phương án chuyển đổi sang Công ty cổ phần. Quyết toán phần vốn nhà nước bàn giao sang Công ty cổ phần 40 đơn vị; tổ chức hội nghị, diễn đàn doanh nghiệp, dân doanh,... Trong công tác cổ phần hóa các Tổng công ty, các Công ty cần phải quán triệt quản lý chặt chẽ tài sản và tiền vốn, chống thất thoát, lợi dụng để tham nhũng.
Điều tra đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đã chuyển đổi sang công ty cổ phần, nghiên cứu đề xuất chính sách hậu cổ phần hóa trình Thủ tướng Chính phủ.
Các địa phương tập trung triển khai các phương án sắp xếp các nông, lâm trường quốc doanh, trong đó lưu ý nhất đến vấn đề rà soát lại đất đai, kiên quyết điều chuyển diện tích sử dụng kém hiệu quả, chưa sử dụng cho dân địa phương. Tiến hành tốt việc chuyển đổi các doanh nghiệp quốc doanh thuộc ngành.
Các địa phương thực hiện tích cực việc dồn điền đổi thửa, khắc phục dần các hình thức sản xuất manh mún, phân tán, hình thành các gia trại, trang trại sản xuất công nghiệp, vùng tập trung. Triển khai việc quy hoạch địa bàn chăn nuôi tập trung, hướng dẫn và hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân phát triển chăn nuôi quy mô vừa và lớn. Khuyến khích đầu tư các cơ sở giết mổ và chế biến gia súc, gia cầm tập trung gắn với xử lý chất thải.
II. THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Trước mắt, tập trung hoàn thành tốt việc xây dựng Đề án về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn để trình Ban chấp hành Trung ương vào tháng 4 năm 2008.
Phối hợp với các địa phương tổ chức triển khai tốt các Chương trình, dự án, cơ chế chính sách đã được phê duyệt, ban hành.
Tiếp tục thực hiện Chương trình "Mỗi làng một nghề", có chính sách hỗ trợ khôi phục và phát triển các làng nghề, khuyến khích các hộ gia đình, tư nhân, HTX, doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đa dạng.
Hướng dẫn các địa phương: Thực hiện xã hội hóa dịch vụ ở nông thôn, thu hút sự tham gia của mọi thành phần kinh tế để đảm bảo cung cấp các dịch vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân nông thôn, năm 2008 tạo ra khoảng 20% GDP nông thôn.
Tiếp tục thực hiện xây dựng 10 mô hình thí điểm phát triển nông thôn mới cấp làng, thôn, bản ở một số địa phương.
Triển khai thực hiện các biện pháp đặc biệt hỗ trợ các vùng nông thôn còn nhiều khó khăn để xóa đói giàm nghèo; triển khai các chương trình 134, 135; tạo điều kiện để nông dân tiếp cận được các dịch vụ về y tế, giáo dục, văn hóa, cải thiện đời sống; xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Trong năm 2008 tập trung hỗ trợ và hướng dẫn nông dân vùng miền núi phía Bắc là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất trong nước phát triển sản xuất xóa đói giảm nghèo.
Quy hoạch và điều chỉnh dân cư, ưu tiên bố trí dân cư cho vùng chịu ảnh hưởng của thiên tai (sạt lở bờ sông, bờ biển, lũ quét,...), hải đảo, vùng xung yếu và rất xung yếu, vùng bảo vệ nghiêm ngặt của rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Thực hiện các dự án bố trí dân cư biên giới Việt-Trung; hạn chế dân di cư tự do và ổn định cho dân di cư đã đến trên địa bàn. Dự kiến năm 2008 bố trí, sắp xếp 16.500 hộ.
Thực hiện tốt các nhiệm vụ về di dân Thủy điện Sơn La; nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách thống nhất đối với tái định cư các công trình thủy lợi, thủy điện.
Tiếp tục triển khai có hiệu quả chương trình 661, các cơ chế chính sách đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 100, 147,... triển khai Đề án kiểm soát nương rẫy,...
III. PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN VÀ TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
Năm 2008 thực hiện nguyên tắc phân bổ vốn đầu tư: Ưu tiên vốn đối ứng cho các dự án ODA đã cam kết với các nước và các công trình hoàn thành đưa vào sử dụng ngay; đầu tư củng cố hệ thống đê điều, đẩy nhanh thi công các công trình chặn dòng, vượt lũ, các công trình an toàn hồ chứa, công trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất; sau đó mới xem xét các công trình mở mới có nhu cầu cấp bách. Đẩy nhanh tiến độ thi công giải ngân các công trình vốn TPCP, các dự án ODA để sớm hoàn thành công trình đưa vào sử dụng.
1. Đầu tư phát triển thủy lợi, đảm bảo yêu cầu thâm canh, tăng năng suất, chất lượng nông, lâm, thủy sản, góp phần vào sự tăng trưởng chung của ngành
Mục tiêu năm 2008 đảm bảo cấp nước tưới cho lúa 7,0 triệu ha/7,2 triệu ha; trong đó vụ Đông Xuân 2,9/3,06 triệu ha gieo trồng; vụ Hè thu 2,09/2,17 triệu ha gieo trồng; vụ Mùa 1,86/2,1 triệu ha gieo trồng. Tưới cho màu và cây công nghiệp 1,8/3,4 triệu ha. Đảm bảo tiêu thoát nước cho 1,9 triệu ha đất nông nghiệp; phục vụ cho nuôi trồng thủy sản.
Cục Thủy lợi cùng với các địa phương trước hết phải phối hợp chặt chẽ với ngành điện lực có kế hoạch xả nước hồ Hòa Bình hợp lý, đồng thời chỉ đạo hệ thống bơm tát khai thác tối đa lượng nước về phục vụ đổ ải, gieo cấy lúa Đông xuân ở các tỉnh ĐBSH. Hướng dẫn nông dân sử dụng nước tiết kiệm, có kế hoạch phòng chống hạn, phối hợp với ngành trồng trọt có phương án chuyển đổi cơ cấu sản xuất khi có hạn lớn. Tiến hành soát xét lại hệ thống các hồ đập để có kế hoạch nâng cấp đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão, tích nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp và sinh hoạt. Tập trung vốn đầu tư dứt điểm các công trình xây dựng sớm đưa vào khai thác sử dụng.
Trong năm 2008, tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình thủy lợi bằng nguồn vốn TPCP, giải ngân đạt 100% theo kế hoạch. Chỉ đạo quyết liệt chủ đầu tư các dự án sử dụng vốn ODA thực hiện tiến độ theo kế hoạch từng tháng, đảm bảo hoàn thành theo tiến độ đã cam kết với các nhà tài trợ.
Tiếp tục hoàn thiện các quy hoạch thủy lợi phục vụ đa mục tiêu, hướng dẫn việc quản lý các công trình thủy lợi sau khi miễn thủy lợi phí cho nông dân. Thực hiện chương trình đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý các công trình thủy lợi. Hướng dẫn địa phương thực hiện chính sách miễn thủy lợi phí theo Nghị định của Chính phủ.
Đối với nguồn ngân sách trong nước: Ưu tiên hoàn thành các công trình dở dang, đầu tư mới chủ yếu để nâng cấp các công trình hiện có, trước hết đảm bảo an toàn hồ chứa; đầu tư các công trình thủy lợi phục vụ chuyển dịch cơ cấu sản xuất hướng vào nuôi trồng thủy sản, các cây hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, sản xuất muối, chăn nuôi tập trung.
Rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch thủy lợi các lưu vực sông, hệ thống thủy nông nhằm khai thác, sử dụng tổng hợp, phát triển bền vững nguồn nước. Có biện pháp hữu hiệu quản lý và giảm thiểu tình trạng gây ô nhiễm nguồn nước của các khu công nghiệp, làng nghề. Tổ chức điều tra nguồn lợi hải sản, xây dựng đề án khai thác và bảo vệ tài nguyên biển.
Nâng cấp hệ thống đê điều, trước hết ưu tiên những nơi thực sự nguy hiểm, có khả năng uy hiếp đến sự an toàn của đê; khép kín hàng tre chắn sóng; thực hiện chương trình trồng rừng ven biển.
Tổ chức kiểm tra công trình trước lũ, phát hiện và sửa chữa kịp thời những công trình hư hỏng, đảm bảo vận hành an toàn trong mùa mưa bão năm 2008.
2. Về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Dự kiến đưa tỷ lệ hộ gia đình nông thôn được cấp nước sạch lên 75%, có nhà tiêu hợp vệ sinh lên 57%. Tập trung ưu tiên cho các vùng miền núi, Tây Nguyên, biên giới, hải đảo và đồng bào dân tộc, các vùng thường bị hạn hán, thiếu nước, hướng đến năm 2010 đảm bảo trên 85% số hộ nông thôn có nước hợp vệ sinh, trên 70% số hộ nông dân có nhà tiêu hợp vệ sinh.
3. Về thủy sản
Rà soát, điều chỉnh và tập trung đầu tư để sớm hoàn thành hệ thống các khu neo đậu, tránh trú bão cho tàu thuyền của ngư dân. Trong năm 2008, dự kiến triển khai đầu tư 6 khu neo đậu tránh bão do Bộ quản lý, 5 khu neo đậu tránh bão cấp vùng và các dự án khác. Tiến hành xây dựng dự án mở rộng khu hậu cần nghề cá đảo Đá Tây. Chuẩn bị thực hiện dự án mở rộng cảng cá ở miền Trung và ĐBSCL; khởi công mới các cảng cá Thuận An, Phan Thiết; các chợ tôm ĐBSCL, chợ thủy sản đầu mối,...
4. Về đào tạo nguồn nhân lực
Xây dựng và triển khai thực hiện Đề án phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Tiếp tục mở rộng việc đào tạo nghề cho nông dân để đáp ứng nhu cầu chuyển nghề, phát triển làng nghề.
Tiếp tục triển khai thực hiện đề án sắp xếp lại khối trường đã được Bộ duyệt. Mở rộng các trường đào tạo nghề, đa dạng hình thức đào tạo để dạy nghề cho lao động nông thôn làm công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, đáp ứng cho các khu công nghiệp trong nước và xuất khẩu lao động.
Đào tạo cán bộ quản lý, trước hết là cán bộ HTX, chủ trang trại, chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức nhà nước năm 2008; lựa chọn các cán bộ trẻ có năng lực, có tâm huyết gửi đi đào tạo chuyên ngành ở các nước chuẩn bị cho lực lượng cán bộ khoa học, kỹ thuật, quản lý có trình độ cao của ngành trong tương lai.
IV. THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH THỂ CHẾ VÀ HÀNH CHÍNH
- Cải cách thể chế, rà soát hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực nông, lâm, thủy sản và nông thôn. Trong năm 2008 trình Quốc hội và Thường vụ Quốc hội cho xây dựng 4 Luật, 3 Pháp lệnh, trình Chính phủ phê duyệt 8 Nghị định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 8 Quyết định... Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến, kiểm tra tình hình thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật.
- Kiện toàn tổ chức ngành và thực hiện mạnh mẽ phân cấp cho địa phương và các Cục chuyên ngành.
- Hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy quản lý nhà nước ở Bộ và địa phương theo Nghị quyết của Quốc hội và Nghị định của Chính phủ hợp nhất hai Bộ; hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước toàn ngành thống nhất từ Bộ xuống địa phương.
- Tiếp tục phân cấp hơn nữa cho các địa phương có đủ năng lực quản lý các dự án đầu tư phát triển. Trong Bộ, tiếp tục chuyển giao thêm nhiệm vụ cho các Cục chuyên ngành.
- Tiếp tục rà soát để công khai hóa, minh bạch hóa các thủ tục hành chính. Mở rộng áp dụng cơ chế một cửa ở các Cục còn lại. Tiến tới thực hiện cơ chế một cửa liên thông ở cấp Bộ.
- Thực hiện chương trình cải cách tài chính công, áp dụng xây dựng kế hoạch chi tiêu trung hạn, thực hiện mục tiêu đổi mới quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp có thu.
- Thực hiện chương trình hiện đại hóa công tác quản lý ngành trên cơ sở mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin. Kiện toàn hệ thống thống kê ngành.
- Việc chỉ đạo, điều hành của Bộ đảm bảo phải được công khai hóa, thống nhất chung toàn ngành, Văn phòng Bộ phải chủ động xây dựng các chương trình công tác tháng, quý, năm, thông báo đến các đơn vị, địa phương ngay từ đầu năm.
- Thực hiện kế hoạch luân chuyển, đào tạo để nâng cao năng lực cán bộ quản lý nhà nước từ Bộ xuống đến Sở.
V. TRIỂN KHAI CÔNG TÁC THANH TRA VÀ THỰC HIỆN LUẬT PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG VÀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ
1. Kiểm tra, rà soát văn bản luật
Tiến hành kiểm tra 173 văn bản quy phạm pháp luật do cấp tỉnh ban hành, 123 văn bản do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, 39 văn bản do các Bộ, ngành khác ban hành có liên quan đến nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Rà soát 44 văn bản quy phạm pháp luật do cấp trên ban hành; rà soát 258 văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành; 91 văn bản do các Bộ, ngành khác ban hành liên quan đến nông nghiệp, nông thôn.
2. Phổ biến giáo dục pháp luật:
Tiến hành tổ chức 49 lượt hoặc cuộc phổ biến văn bản Luật; trong đó 20 lượt/cuộc phổ biến Luật và Pháp lệnh, 13 lượt/cuộc phổ biến Nghị định, Quyết định và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 16 lượt/cuộc phổ biến Quyết định, Chỉ thị của Bộ trưởng và Thông tư hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
3. Xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan thuộc Bộ, uốn nắn kịp thời các sai phạm, tạo điều kiện cho Bộ máy quản lý nhà nước của Bộ hoạt động có hiệu quả.
Dự kiến trong năm triển khai 15 cuộc thanh tra chủ động, 4 cuộc thanh tra phòng chống tham nhũng, 15 cuộc thanh tra đột xuất do Thanh tra Bộ thực hiện và 60 cuộc thanh tra chủ động do các Cục chuyên ngành thực hiện, 100 cuộc thanh tra do các Tổng công ty thực hiện.
4. Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Luật phòng chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền; nâng cao trách nhiệm của lãnh đạo và cấp ủy, nhất là người đứng đầu cơ quan đơn vị; nghiêm túc xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện các nội dung của 2 luật.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định của luật pháp.
Chấn chỉnh và tăng cường hệ thống Thanh tra chuyên ngành kể cả về cán bộ và thể chế để thực hiện tốt kế hoạch thanh tra, kiểm tra một cách chủ động. Công tác thanh tra, kiểm tra cần tập trung vào những lĩnh vực có tính nhậy cảm như quản lý, sử dụng đất, xây dựng cơ bản, cổ phần hóa, thương mại,... Trước hết các đơn vị phải thực hiện nghiêm việc công khai hóa, đơn giản hóa các thủ tục đối với các lĩnh vực trên theo đúng quy định của Bộ.
Năm 2008 là năm thứ 3 thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X và năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết của Trung ương về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Chắc chắn ngành nông nghiệp vẫn nhận được sự chỉ đạo thường xuyên của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, sự phối hợp của các ban ngành, địa phương, kinh nghiệm nhiều năm và sự nỗ lực to lớn của cả hệ thống chính trị, nông dân cả nước, nông nghiệp, nông thôn năm 2008 nhất định sẽ là năm được mùa, được giá góp phần đáng kể cải thiện đời sống nông dân./.
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
 
1. Tổng sản phẩm trong nước năm 2007 theo giá thực tế
 
 
Thực hiện (Tỷ đồng)
 
Cơ cấu (%)
 
Năm 2006
 
Ước tính năm 2007
 
Năm 2006
 
Ước tính năm 2007
 
TỔNG SỐ
 
973790
 
1143070
 
100.00
 
100.00
 
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
 
198266
 
231282
 
20.36
 
20.23
Nông nghiệp
149234
173465
15.32
15.18
Lâm nghiệp
10780
12042
1.11
1.05
Thủy sản
38252
45775
3.93
4.00
 
Khu vực công nghiệp và xây dựng
 
404753
 
475728
 
41.56
 
41.62
Công nghiệp khai thác
99919
111902
10.26
9.79
Công nghiệp chế biến
206945
244440
21.25
21.38
Công nghiệp điện nước
33386
39769
3.43
3.48
Xây dựng
64503
79617
6.62
6.97
 
Khu vực dịch vụ
 
370771
 
436060
 
38.08
 
38.15
Thương nghiệp
132794
156286
13.64
13.67
Khách sạn, nhà hàng
35861
44953
3.68
3.93
Vận tải, bưu điện, du lịch
43825
50718
4.50
4.44
Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
17607
20717
1.81
1.81
Khoa học và công nghệ
6059
7063
0.62
0.62
Kinh doanh bất động sản
36814
43509
3.78
3.81
Quản lý Nhà nước
26737
31335
2.75
2.74
Giáo dục đào tạo
30718
34821
3.15
3.05
Y tế
14093
16151
1.45
1.41
Văn hóa, thể thao
4617
5195
0.47
0.46
Đảng, đoàn thể, hiệp hội
1217
1425
0.12
0.12
Phục vụ cá nhân, cộng đồng
18789
21960
1.93
1.92
Dịch vụ làm thuê
1640
1927
0.17
0.17
 
2. Tổng sản phẩm trong nước năm 2007 theo giá so sánh 1994
 
 
Thực hiện (Tỷ đồng)
 
Năm 2007 so với năm 2006 (%)
 
Năm 2006
 
Ước tính năm 2007
 
TỔNG SỐ
 
425135
 
461033
 
108.44
 
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
 
79505
 
82090
 
103.25
Nông nghiệp
65892
67352
102.22
Lâm nghiệp
2665
2694
101.10
Thủy sản
10948
12044
110.01
 
Khu vực công nghiệp và xây dựng
 
174239
 
192704
 
110.60
Công nghiệp khai thác
23037
22568
97.97
Công nghiệp chế biến
100396
113237
112.79
Công nghiệp điện nước
12574
14075
111.93
Xây dựng
38232
42824
112.01
 
Khu vực dịch vụ
 
171391
 
186239
 
108.66
Thương nghiệp
69418
75437
108.67
Khách sạn, nhà hàng
15145
17071
112.72
Vận tải, bưu điện, du lịch
16870
18609
110.31
Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
8867
9633
108.65
Khoa học và công nghệ
2543
2738
107.64
Kinh doanh bất động sản
15252
15872
104.06
Quản lý Nhà nước
11270
12196
108.22
Giáo dục đào tạo
14231
15468
108.69
Y tế
6082
6568
107.99
Văn hóa, thể thao
2329
2515
108.00
Đảng, đoàn thể, hiệp hội
454
491
108.14
Phục vụ cá nhân, cộng đồng
8210
8860
107.92
Dịch vụ làm thuê
720
781
108.48
 
3. Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 12 năm 2007
 
 
Thực hiện cùng kỳ năm trước (Nghìn ha)
 
Thực hiện kỳ này (Nghìn ha)
 
Thực hiện kỳ này so với cùng kỳ năm trước (%)
 
1. Gieo cấy lúa đông xuân ở miền Nam
 
1086.9
 
788.4
 
72.5
Trong đó: Đồng bằng sông Cửu Long
996.5
753.4
75.6
 
2. Gieo trồng một số cây vụ đông ở miền Bắc
 
493.7
 
471.6
 
95.5
Ngô
182.2
183.9
101.0
Khoai lang
78.7
72.3
91.9
Lạc
9.1
9.8
107.6
Đậu tương
63.8
66.5
104.2
Rau đậu
156.4
166.2
106.3
 
4. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2007 theo giá so sánh 1994
 
 
Thực hiện (Tỷ đồng)
 
Năm 2007 so với năm 2006 (%)
 
Năm 2006
 
Ước tính năm 2007
 
TỔNG SỐ
 
191183
 
199977
 
104.6
 
Nông nghiệp
 
142711
 
146811
 
102.9
Trồng trọt
111613
114333
102.4
Chăn nuôi
27907
29201
104.6
Dịch vụ
3191
3277
102.7
 
Lâm nghiệp
 
6436
 
6503
 
101.0
 
Thủy sản
 
42036
 
46663
 
111.0
Nuôi trồng
25898
30181
116.5
Khai thác
16138
16482
102.1
 
5. Diện tích, năng suất và sản lượng năm 2007 một số loại cây trồng chủ yếu
 
 
Ước tính năm 2007
 
Năm 2007 so với năm 2006 (%)
 
Tổng số
 
Chia ra
 
Tổng số
 
Chia ra
 
Miền Bắc
 
Miền Nam
 
Miền Bắc
 
Miền Nam
 
1. Cây lương thực có hạt
 
 
 
 
 
 
 
Lúa cả năm
 
 
 
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
7201.0
2505
4696
98.3
99.6
97.7
Năng suất (Tạ/ha)
49.8
50.4
49.5
101.8
96.7
104.7
Sản lượng (Nghìn tấn)
35867.5
12628.7
23238.8
100.1
96.3
102.2
 
Lúa đông xuân
 
 
 
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
2988.5
1140.8
1847.7
99.8
99.4
100.0
Năng suất (Tạ/ha)
57.0
53.9
58.9
97.0
91.0
100.8
Sản lượng (Nghìn tấn)
17024.0
6144.1
10879.9
96.8
90.4
100.8
 
Lúa hè thu
 
 
 
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
2204.8
163.2
2041.6
95.1
100.5
94.7
Năng suất (Tạ/ha)
45.9
41.2
46.2
109.6
91.7
111.2
Sản lượng (Nghìn tấn)
10111.6
673.0
9438.6
104.3
92.1
105.3
 
Lúa mùa
 
 
 
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
2007.7
1201
806.7
99.8
99.7
100.0
Năng suất (Tạ/ha)
43.5
48.4
36.2
102.1
104.4
97.9
Sản lượng (Nghìn tấn)
8731.9
5811.6
2920.3
101.9
104.1
97.9
 
Ngô
 
 
 
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
1067.9
630
437.9
104.0
104.5
103.3
Năng suất (Tạ/ha)
38.5
33.9
45.1
104.1
106.5
101.8
Sản lượng (Nghìn tấn)
4107.5
2133
1974.5
108.2
111.3
105.1
 
Tổng sản lượng lương thực có hạt (Nghìn tấn)
 
39976.6
 
14762.8
 
25213.8
 
100.8
 
98.2
 
102.4
Trong đó:
 
 
 
 
 
 
Lúa
35867.5
12628.7
23238.8
100.1
96.3
102.2
Ngô
4107.5
2133.0
1974.5
108.2
111.3
105.1
 
2. Cây chất bột có củ
 
 
 
 
 
 
 
Khoai lang
 
 
 
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
177.6
136.4
41.2
98.0
97.2
100.7
Năng suất (Tạ/ha)
82.0
69.8
122.5
101.7
100.6
102.8
Sản lượng (Nghìn tấn)
1456.7
952.1
504.6
99.7
97.8
103.6
 
Sắn
 
 
 
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
497.0
164.7
332.3
104.6
104.2
104.8
Năng suất (Tạ/ha)
160.7
129.6
176.0
98.1
101.4
96.9
Sản lượng (Nghìn tấn)
7984.9
2134.8
5850.1
102.6
105.7
101.5
 
6. Diện tích, năng suất và sản lượng năm 2007 của một số cây công nghiệp hàng năm
 
 
Năm 2006
 
Ước tính năm 2007
 
Năm 2007 so với năm 2006 (%)
 
Bông
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
20.9
12.4
59.3
Năng suất (Tạ/ha)
13.7
13.0
94.9
Sản lượng (Nghìn tấn)
28.6
16.1
56.3
 
Đay
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
6.3
11.7
185.7
Năng suất (Tạ/ha)
16.8
26.5
157.7
Sản lượng (Nghìn tấn)
10.6
31.0
292.5
 
Cói
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
12.3
13.8
112.2
Năng suất (Tạ/ha)
73.2
72.5
99.0
Sản lượng (Nghìn tấn)
90.0
100.0
111.1
 
Mía
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
288.1
290.8
100.9
Năng suất (Tạ/ha)
580.3
597.6
103.0
Sản lượng (Nghìn tấn)
16719.5
17378.5
103.9
 
Lạc
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
246.7
254.6
103.2
Năng suất (Tạ/ha)
18.7
19.8
105.8
Sản lượng (Nghìn tấn)
462.5
505.0
109.2
 
Đậu tương
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
185.6
190.1
102.4
Năng suất (Tạ/ha)
13.9
14.5
104.2
Sản lượng (Nghìn tấn)
258.1
275.5
106.7
 
Thuốc lá
 
 
 
Diện tích (Nghìn ha)
26.7
19.2
71.9
Năng suất (Tạ/ha)
15.7
16.6
105.9
Sản lượng (Nghìn tấn)
41.9
31.9
76.1
 
7. Diện tích, sản lượng năm 2007 của một số cây công nghiệp lâu năm
 
 
Năm 2006
 
Ước tính năm 2007
 
Năm 2007 so với năm 2006 (%)
 
Diện tích gieo trồng (Nghìn ha)
 
 
 
Chè
122.9
125.7
102.3
Cà phê
497.0
506.4
101.9
Cao su
522.2
549.6
105.2
Dừa
133.9
134.6
100.5
Hồ tiêu
48.5
47.9
98.8
Điều
401.8
437.0
108.8
 
 
 
 
 
Sản lượng (Nghìn tấn)
 
 
 
Chè
648.9
704.9
108.6
Cà phê
985.3
961.2
97.6
Cao su
555.4
601.7
108.3
Dừa
1000.7
1046.8
104.6
Hồ tiêu
78.9
90.3
114.4
Điều
273.1
301.9
110.5
 
8. Chăn nuôi tại thời điểm 1/8/2007
 
 
Thực hiện (Nghìn con)
 
Năm 2007 so với năm 2006 (%)
 
Năm 2006
 
Ước tính năm 2007
Trâu
2921
2996
102.58
6511
6725
103.29
Lợn
26855
26561
98.90
Gia cầm
214565
226027
105.34
 
9. Kết quả sản xuất lâm nghiệp năm 2007
 
 
Thực hiện
 
Năm 2007 so với năm 2006 (%)
 
Năm 2006
 
Ước tính năm 2007
Diện tích rừng trồng tập trung (Nghìn ha)
192.7
194.7
101.0
Số cây trồng phân tán (Triệu cây)
195.5
188.3
96.3
Diện tích rừng được chăm sóc (Nghìn ha)
511.3
487.2
95.3
Diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh (Nghìn ha)
957.5
969.3
101.2
Sản lượng gỗ khai thác (Nghìn m3)
3189.1
3260.5
102.2
Sản lượng củ khai thác (Nghìn ste)
26269.8
26047.1
99.2
Diện tích rừng bị cháy (Ha)
2386.7
4367.3
183.0
Diện tích rừng bị chặt phá (Ha)
3124.5
1350.3
43.2
 
10. Sản lượng thủy sản năm 2007
 
 
Thực hiện (Nghìn tấn)
 
Năm 2007 so với năm 2006 (%)
 
 
Năm 2006
 
Ước tính năm 2007
 
TỔNG SỐ
3720.5
4149.0
111.5
2689.8
3053.6
113.5
Tôm
463.2
498.2
107.6
Thủy sản khác
567.5
597.2
105.2
 
Nuôi trồng
1693.9
2085.2
123.1
1157.1
1494.8
129.2
Tôm
354.5
386.6
109.1
Thủy sản khác
182.3
203.8
111.8
 
Khai thác
2026.6
2063.8
101.8
1532.7
1558.8
101.8
Tôm
108.7
111.6
102.7
Thủy sản khác
385.2
393.4
102.1
 
11. Xuất khẩu hàng hóa tháng 12 và năm 2007
 
 
Nghìn tấn, triệu USD
 
Thực hiện 11 tháng 2007
 
Ước tính tháng 12/2007
 
Cộng dồn cả năm 2007
 
Năm 2007 so với năm 2006 (%)
 
Lượng
 
Trị giá
 
Lượng
 
Trị giá
 
Lượng
 
Trị giá
 
Lượng
 
Trị giá
 
TỔNG TRỊ GIÁ
 
 
43687
 
 
4700
 
 
48387
 
 
121.5
 
Khu vực kinh tế trong nước
 
 
18640
 
 
1915
 
 
20555
 
 
122.3
 
Khu vực có vốn đầu tư NN
 
 
25047
 
 
2785
 
 
27832
 
 
120.9
Dầu thô
 
7592
 
885
 
8477
 
102.6
Hàng hóa khác
 
17455
 
1900
 
19355
 
131.2
 
MẶT HÀNG CHỦ YẾU
 
 
 
 
 
 
 
 
Dầu thô
13816
7592
1265
885
15081
8477
91.9
102.6
Than đá
29535
915
3000
103
32535
1018
111.0
111.3
Dệt, may
 
7034
 
750
 
7784
 
133.4
Giáy dép
 
3573
 
390
 
3963
 
110.3
Túi xách, ví, va li, mũ, ô dù
 
570
 
65
 
635
 
126.2
Điện tử, máy tín
 
1948
 
230
 
2178
 
127.5
Sản phẩm mây tre, cói, thảm
 
198
 
20
 
218
 
113.6
Sản phẩm gốm sứ
 
295
 
35
 
330
 
120.4
Sản phẩm đá quý và KL quý
 
176
 
25
 
201
 
122.2
Dây điện và cáp điện
 
794
 
90
 
884
 
125.4
Sản phẩm nhựa
 
640
 
85
 
725
 
151.4
Xe đạp và phụ tùng xe đạp
 
71
 
8
 
79
 
67.4
Dầu mỡ động, thực vật
 
42
 
5
 
47
 
310.0
Đồ chơi trẻ em
 
70
 
7
 
77
 
116.3
Mỳ ăn liền
 
72
 
8
 
80
 
116.5
Gạo
4433
1432
67
22
4500
1454
96.9
113.9
Cà phê
1084
1662
110
192
1194
1854
121.8
152.3
Rau quả
 
274
 
25
 
299
 
115.4
Cao su
639
1229
80
171
719
1400
101.6
108.8
Hạt tiêu
78
252
8
30
86
282
73.4
147.8
Hạt điều
138
584
15
65
153
649
120.4
128.9
Chè
103
116
11
15
114
131
107.8
118.4
Sản phẩm gỗ
 
2134
 
230
 
2364
 
122.3
Thủy sản
 
3432
 
360
 
3792
 
112.9
 
12. Nhập khẩu hàng hóa tháng 12 và năm 2007
 
 
Nghìn tấn, triệu USD
 
Thực hiện 11 tháng 2007
 
Ước tính tháng 12/2007
 
Cộng dồn cả năm 2007
 
Năm 2007 so với năm 2006 (%)
 
Lượng
 
Trị giá
 
Lượng
 
Trị giá
 
Lượng
 
Trị giá
 
Lượng
 
Trị giá
 
TỔNG TRỊ GIÁ
 
 
54530
 
 
6300
 
 
60830
 
 
135.5
 
Khu vực kinh tế trong nước
 
 
35068
 
 
4150
 
 
39218
 
 
138.1
 
Khu vực có vốn đầu tư NN
 
 
19462
 
 
2150
 
 
21612
 
 
131.0
 
MẶT HÀNG CHỦ YẾU
 
 
 
 
 
 
 
 
Ô tô
 
1241
 
203
 
1444
 
201.0
Trong đó: Nguyên chiếc
23
450
5
73
28
523
223.0
245.5
Máy móc, thiết bị, dụng vụ và phụ tùng
 
9376
 
1000
 
10376
 
156.5
Điện tử, máy tính và linh kiện
 
2644
 
300
 
2944
 
143.7
Xăng dầu
11454
6668
1100
833
12554
7501
112.0
125.7
Sắt thép
6925
4352
780
529
7705
4881
135.0
166.2
Trong đó: Phôi thép
1888
944
170
98
2058
1042
105.8
138.8
Phân bón
3393
862
400
134
3793
996
121.6
144.9
Trong đó: Urê
649
173
100
30
749
203
102.9
115.2
Chất dẻo
1489
2243
170
263
1659
2506
122.5
134.3
Hóa chất
 
1299
 
150
 
1449
 
139.1
Sản phẩm hóa chất
 
1155
 
125
 
1280
 
127.1
Tân dược
 
630
 
70
 
700
 
127.6
Thuốc trừ sâu
 
330
 
40
 
370
 
121.3
Giấy
761
541
80
54
841
595
118.5
125.1
Nguyên phụ liệu dệt, may, da
 
1977
 
210
 
2187
 
112.1
Vải
 
3619
 
370
 
3989
 
133.6
Sợi dệt
385
671
40
73
425
744
125.4
136.8
Bông
196
247
16
20
212
267
117.1
122.1
Thức ăn gia súc và NPL
 
1034
 
90
 
1124
 
152.6
Lúa mỳ
1130
311
150
59
1280
370
102.8
164.3
Gỗ và NPL gỗ
 
922
 
100
 
1022
 
131.9
Sữa và sản phẩm sữa
 
418
 
80
 
498
 
155.1
Dầu mỡ động thực vật
 
413
 
60
 
473
 
184.3
Xe máy
 
648
 
74
 
722
 
170.0
Trong đó: Nguyên chiếc
123
127
16
17
139
144
230.1
187.0
_____________________________________
 
In bài
Các tin khác
Kế hoạch phát triển sự nghiệp Y tế năm 2008
Báo cáo tổng kết công tác thông tin và truyền thông năm 2007 và Chương trình công tác năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2008

Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2008

Tình hình kinh tế - xã hội năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch thương mại-dịch vụ tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo kết quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư tháng 9 và tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình điều hành bình ổn thị trường trong nước và xuất nhập khẩu tháng 8 năm 2008
Báo cáo về điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và tỷ giá tháng 8/2008
Báo cáo tình hình thực hiện chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát 8 tháng đầu năm
Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội tháng 8 năm 2008
Báo cáo đầu tư nước ngoài tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2008
Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2008
Báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2008
Báo cáo đầu tư nước ngoài tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2008
Báo cáo kết quả sản xuất-kinh doanh, dịch vụ và đầu tư tháng 7 và tình hình KT-XH 7 tháng năm 2008
Tình hình điều hành kinh tế vĩ mô tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2008, các giải pháp chủ yếu trong 6 tháng cuối năm
Tình hình kinh tế-xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2008 và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP của Chính phủ
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2008
Báo cáo bổ sung tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và triển khai kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2008
Tổng hợp tình hình Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008 của Văn phòng Chính phủ
Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2007 và mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu năm 2008 của ngành xây dựng
Báo cáo Tổng kết công tác năm 2007, triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2008 của Bộ Giao thông vận tải
Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH, an ninh, quốc phòng năm 2007 và kế hoạch năm 2008 của Thành phố Hà Nội
Kết quả năm 2007 và kế hoạch phát triển công nghiệp, thương mại năm 2008
Báo cáo tổng kết năm 2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008 của Tổng Công ty Thép Việt Nam
Báo cáo triển khai kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2008
Kế hoạch phát triển sự nghiệp Y tế năm 2008
Báo cáo tổng kết công tác thông tin và truyền thông năm 2007 và Chương trình công tác năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2008
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Quyền Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.