Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2008

Kết quả năm 2007 và kế hoạch phát triển công nghiệp, thương mại năm 2008
05/08/2010 11:37:00

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP VÀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI NĂM 2007
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH NĂM 2007
Năm 2007 là năm thứ hai triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010. Đây là năm có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo đà tăng trưởng cao và bền vững nhằm hoàn thành các mục tiêu của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XI.
Bước vào kế hoạch năm 2007 trong bối cảnh bắt đầu thực hiện các cam kết về gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam vừa có những cơ hội, đồng thời cũng rất nhiều thách thức cần phải vượt qua.
Kinh tế thế giới tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng, trong đó Châu Á - Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động nhất... Việc gia nhập WTO đã tạo cơ hội cho nước ta mở rộng hợp tác kinh tế toàn diện, khai thác lợi thế so sánh, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát huy tốt hơn nội lực, tạo thành sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước. Làn sóng đầu tư, lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ, lao động và vốn trong khu vực và giữa khu vực với bên ngoài được mở rộng. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, tiếp tục phát triển mạnh, là những nhân tố tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội nước ta.
Tuy vậy, thị trường thế giới đã xuất hiện những biến động khó lường. Giá nhiều loại vật tư, nguyên vật liệu như sắt thép, phân bón, chất dẻo, giấy, bông, sợi dệt, đặc biệt là xăng dầu, liên tục thay đổi ở mức cao gây áp lực cho sản xuất trong nước và làm tăng giá tiêu dùng, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức mua của dân cư. Cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt hơn, gây áp lực ngày càng lớn với các nước đang phát triển có tiềm lực kinh tế và năng lực cạnh tranh còn yếu như nước ta. Trong khi đó, việc chuẩn bị để hội nhập trên cả 3 mặt về nhận thức, hoàn thiện hệ thống luật pháp, nâng cao khả năng cạnh tranh vẫn còn nhiều hạn chế; các nước phát triển lại có xu hướng áp đặt rào cản kỹ thuật trong thương mại cũng như lạm dụng các biện pháp tự vệ như chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với hàng hoá xuất khẩu của các nước đang phát triển.
Bối cảnh trong nước, sự ổn định chính trị và môi trường kinh tế vĩ mô ngày càng được hoàn thiện là những điều kiện cơ bản để huy động mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế cho phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hoàn thiện và vận hành có hiệu quả. Các kết quả đáng kể trong đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng năng lực sản xuất của các ngành là những điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện nhiệm vụ năm 2007.
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức phải vượt qua: trước hết là năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển chưa cao, khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn thấp; thiên tai bão lũ, hạn hán, dịch bệnh ở nhiều địa phương đã gây nhiều thiệt hại về người và của, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nông dân, làm giảm mức tăng trưởng chung của cả nước.
Tuy vậy, với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự điều hành tích cực của các Bộ, ngành, địa phương, sự cố gắng của toàn quân, toàn dân, của các doanh nghiệp, tình hình kinh tế - xã hội nước ta vẫn tiếp tục ổn định và phát triển.
II. THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2007
1. Tình hình sản xuất công nghiệp
1.1. Giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngànhđạt 574.046,8 tỷ đồng, tăng 17,1% so với thực hiện năm 2006, trong đó:
- Khu vực kinh tế nhà nước tăng 10,3% và tiếp tục giữ vai trò quan trọng của ngành với tỷ trọng 21,1% (giảm 1,7% so với năm 2006); trong đó: doanh nghiệp nhà nước trung ương tăng 13,3% và chiếm tỷ trọng 16,8%, doanh nghiệp nhà nước địa phương tăng 3,0% và chiếm tỷ trọng 4,3%.
- Khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 20,9% (cao nhất trong các khu vực kinh tế) và chiếm tỷ trọng 35,1% (tăng 1,5% so với năm 2006) do các cơ chế, chính sách điều hành kinh tế vĩ mô ngày càng thông thoáng nên đã tạo điều kiện để thu hút thêm nhiều doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất và thành lập mới và do sự năng động của các doanh nghiệp thuộc khu vực này trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Khu vực đầu tư nước ngoài tiếp tục có tăng trưởng cao, ước khoảng 18,2% (trong đó: dầu khí giảm 7,3%, các ngành khác tăng 23,2%) và chiếm tỷ trọng 43,8% (cao nhất trong các khu vực kinh tế, tăng 0,1% so với năm 2006). Đây là khu vực có năng lực cạnh tranh khá ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu, nhất là các doanh nghiệp mới được đầu tư trong những năm gần đây do được đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tương đối cao; đồng thời phát huy được lợi thế thương hiệu và thị trường của công ty mẹ ở nước ngoài.
Nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chiếm tỷ trọng công nghiệp lớn có tốc độ tăng trưởng khá đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của toàn ngành, như: Hà Nội tăng 21,4%; Hải Phòng 18,2%; Vĩnh Phúc 41,4%; Hà Tây 25,1%; Quảng Ninh 16,7%; Đà Nẵng 19,7%; Bình Dương 25,3%; Đồng Nai 22,4%; Cần Thơ 23,4%... nên giá trị sản xuất công nghiệp địa phương cả nước năm 2007 ước đạt 249.600 tỷ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ.
1.2. Sản phẩm chủ yếu:Nhữngsản phẩm công nghiệp chủ yếu phục vụ cho sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu năm 2007 đạt mức tăng trưởng khá so với năm trước, như: điện sản xuất tăng 13,7% tương ứng với điện thương phẩm tăng 13,3%; than sạch 11,5%; thép cán 10,7%; động cơ điện 24,3%; máy công cụ 69,8%; máy biến thế 17,0%; quạt điện 11,7%; máy thu hình 10,5%; phân đạm urê 20,8%; phân bón NPK 18,0%; thuốc trừ sâu 11,4%; lốp xe máy 22,7%; lốp ô tô máy kéo 26,4%; bao bì nhựa 28,7%; sợi toàn bộ 10,9%; vải lụa thành phẩm 10,5%; quần áo may sẵn 14,6%; giấy bìa các loại 15,3%; bia các loại 19,3%; sữa đặc có đường 11,9%; dầu thực vật 34,1%; xi măng 11,8%; xe máy lắp ráp 10,5%; ô tô lắp ráp 52,8%... (Chi tiết xem Phụ lục 1i).
1.3. Một số tình hình nổi bật của các ngành công nghiệp
a. Ngành Năng lượng và Dầu khí
- Ngành Điện lực: Năm 2007 ngành điện lực gặp nhiều khó khăn do phụ tải tăng nhanh, trong khi nguồn điện chưa thể đáp ứng kịp, phải mua điện bên ngoài với giá cao để đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế và xã hội; Tuy đầu năm giá điện đã được điều chỉnh theo lộ trình phần nào giúp ngành điện giảm được áp lực tài chính trong năm, nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp so với yêu cầu phát triển. Mặc dù vậy, Tập đoàn Điện lực và các doanh nghiệp sản xuất điện đã có nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, đảm bảo cung cấp điện ở mức tối đa cho phát triển kinh tế xã hội.
Sản lượng điện sản xuất và mua ngoài năm 2007 ước đạt 67,121 tỷ kWh, tăng 13,7% so với năm 2006; trong đó điện mua của các dự án BOT và IPP là 19,338 tỷ kWh, tăng 54,1%. Lượng điện thương phẩm cung cấp cho sản xuất và tiêu dùng ước đạt 58,19 tỷ kWh, cao hơn 1,2% kế hoạch được giao và tăng 13,3% so với năm trước; trong đó điện cung cấp cho công nghiệp tăng 17,5%.
Trong các tháng cuối năm, do thời tiết khô hạn nên lượng nước về các hồ ít hơn so với cùng kỳ năm trước; ngoài ra, do sự cố một số nguồn nhiệt điện, phát điện không ổn định nên tình hình cung ứng điện đã căng thẳng ngay từ đầu mùa khô.
Ngành Dầu khí: Năm 2007, sản lượng khai thác dầu thô ước đạt 15,52 triệu tấn, bằng 92,2% cùng kỳ và bằng 88,7% kế hoạch đề ra (17,5 triệu tấn) riêng sản lượng khí đạt 6,8 tỷ m3, tăng 0,5% so với cùng kỳ và bằng 93,2% kế hoạch (7,3 tỷ m3 khí). Do giá dầu thô tăng nên mặc dù sản lượng khai thác không đạt kế hoạch nhưng doanh thu vẫn tăng 3,3% so với năm 2006 và đã góp phần quan trọng cho nguồn thu ngân sách của cả nước.
- Ngành Than - Khoáng sản: Về cơ bản, ngành than đã bảo đảm cung cấp đủ nhu cầu than cho sản xuất và tiêu dùng trong nước, nhất là cho các hộ sản xuất lớn. Sản lượng than sạch năm 2007 ước đạt 41,19 triệu tấn, tăng 11,5% so với năm 2006. Tiêu thụ than năm 2007 khoảng 41,1 triệu tấn, tăng 9,0%, trong đó tiêu thụ trong nước khoảng 17,0 triệu tấn, tăng 6,0%, gồm các hộ lớn như: điện 5,7 triệu tấn, tăng 5,0%; đạm 554,8 nghìn tấn, tăng 47,0%; xi măng 2,6 triệu tấn, tăng 19,0%; giấy 164,8 nghìn tấn, giảm 2,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng than xuất khẩu ước đạt trên 32 triệu tấn, tăng 11% so với năm 2006.
Chiến lược và quy hoạch phát triển ngành than đã được xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của ngành than trong thời gian tới. Cùng với việc tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực khai thác hầm lò, thực hiện các giải pháp tiết kiệm tài nguyên, Tập đoàn CN Than và Khoáng sản đang tích cực triển khai các dự án đầu tư vào lĩnh vực điện và chế biến khoáng sản như bôxit
b. Ngành Cơ khí - Luyện kim và Hoá chất
- Ngành Cơ khí: Việc thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 đã tạo điều kiện để ngành phát triển mạnh trong thời gian qua. Theo các số liệu thống kê, nếu năm 2006 giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành cơ khí (giá cố định 1994) đạt 91.737 tỷ đồng thì năm 2007 ước đạt 113.317 tỷ đồng, tăng 23,5% so với năm 2006 và đáp ứng trên 40% nhu cầu thị trường trong nước. Xuất khẩu các sản phẩm cơ khí cũng tăng trưởng mạnh, năm 2007 xuất khẩu của ngành đã đạt 1,33 tỷ USD (nếu tính cả các sản phẩm xe đạp, dây và cáp điện đạt 2,29 tỷ USD).
Riêng các sản phẩm thuộc chương trình cơ khí trọng điểm đến nay đã có những bước phát triển đáng kể, trong đó:
- Ngành cơ khí đóng tàu biển đã đóng mới được tàu có trọng tải 53.000 tấn, tàu chở dầu 105.000 DWT, tàu container 1.016 TEU, tàu khách cao tốc 100 - 200 ghế ngồi, tàu chở dầu 13.500 tấn, tàu chở khí hóa lỏng LPG 2.500 m3 và sửa chữa được các tàu biển đến 300.000 tấn.
- Ngành cơ khí chế tạo và cung cấp thiết bị toàn bộ cũng có bước phát triển khá, đã chế tạo và cung cấp thiết bị toàn bộ cho các dự án nhiệt điện, nhà máy xi măng, nhà máy lọc dầu; cung cấp thiết bị cơ khí thuỷ công cho các nhà máy thuỷ điện trong nước, đặc biệt cho Nhà máy thuỷ điện Sơn La (công suất 2400 MW). Tổng trọng lượng thiết bị cơ khí thuỷ công chế tạo trong nước lên tới hàng chục ngàn tấn với tổng giá trị lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng đã thể hiện năng lực thiết kế và chế tạo của các doanh nghiệp trong nước được nâng lên.
- Ngành cơ khí ô tô đã sản xuất, lắp ráp được các loại xe buýt đến 45 chỗ ngồi có chất lượng cao với tỷ lệ nội địa hoá đến 40%; chế tạo ô tô tải nông dụng, ô tô tải nặng đến 13 tấn và xe chuyên dùng; đã đóng được các toa xe lửa cao cấp chở khách với tỷ lệ nội địa hoá có thể đạt tới 70%. Sản lượng xe lắp ráp các loại đã tăng 52,8% so với năm 2006.
- Ngành xe máy Việt Nam có tốc độ tăng trưởng rất nhanh. Xe máy sản xuất trong nước có tỷ lệ nội địa hóa trên 80%, trong đó nội địa hoá động cơ đạt trên 60%, sản lượng năm 2007 tăng 10,5% so với năm 2006.
Ngành Thép: Năm 2007 sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thép có mức tăng trưởng khá mặc dù chịu ảnh hưởng của giá bên ngoài. Ngoài ra, do số lượng giao dịch hạn chế nên giá thép trong nước tăng liên tục từ 8 triệu đồng/tấn trong quý I/2007 đến tháng 12 lên 12 - 13 triệu đồng/tấn). Sau khi Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN + Trung Quốc có hiệu lực, lượng thép cuộn sản xuất trong nước sụt giảm đáng kể do thép cuộn Trung Quốc nhập khẩu vào nhiều (khoảng 500.000 tấn). Tuy vậy sản lượng phôi thép vẫn đạt gần 1,7 triệu tấn; thép cán 4,25 triệu tấn, tăng 10,7% so với năm trước; tiêu thụ khoảng 3,4 triệu tấn, cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Một điều đáng lưu ý là tiếp tục có nhiều dự án đầu tư sản xuất phôi thép, sản xuất thép tấm của các doanh nghiệp trong nước cũng như của các nhà đầu tư nước ngoài được triển khai, tạo điều kiện cho việc chủ động sản xuất các loại thép thành phẩm trong nước trong thời gian tới.
- Ngành Hoá chất và Phân bón: Do giá dầu mỏ thế giới tăng cao nên giá nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu năm 2007 cao hơn so với năm 2006 như giá lưu huỳnh tăng gấp 2,65 lần; soda tăng 25%, giá chì tăng 100%...đã làm cho giá một số mặt hàng phân bón trong nước tăng như phân DAP tăng 45 - 60%, phân urê tăng 40 - 50%, phân kali (MOP) tăng 50 - 63%, phân đạm SA tăng 30 - 35%... Trước tình hình đó, các doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư công nghệ mới, nâng cao chất lượng sản phẩm nên một số mặt hàng đã chiếm được thị phần trong nước khá như phân NPK 70 - 75% thị phần; phân urê khoảng 50%; săm lốp, cao su kỹ thuật 50 - 60%; các mặt hàng hóa chất chiếm 30 - 35%; chất tẩy rửa chiếm 12 - 20%; thuốc bảo vệ thực vật 5 - 8%; đồng thời tăng sản lượng xuất khẩu như săm lốp ôtô máy kéo đạt 216.750 bộ (tăng 30,75% so 2006) với giá trị 23,2 triệu USD; chất giặt rửa đạt 29.750 tấn; phân bón 577.670 tấn; ắc quy 175.000 kWh.
c. Ngành Công nghiệp Tiêu dùng và Thực phẩm
- Ngành Dệt May: Hoạt động của ngành dệt may trong năm 2007 có nhiều khởi sắc. Mặc dù có nhiều khó khăn như bị Chính phủ Hoa Kỳ áp dụng Chương trình giám sát hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam; tình trạng thiếu lao động cục bộ; giá bông xơ tăng cao (sản lượng bông xơ trong nước chỉ đạt 7 đến 8 nghìn tấn/năm, chỉ đáp ứng 5% nhu cầu của ngành; năm 2007 toàn ngành phải nhập 230 nghìn tấn bông xơ các loại); tỷ lệ sản xuất theo phương thức gia công còn lớn (hơn 70%), nhưng các doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng, với sự hoạt động khá tích cực và hiệu quả của Hiệp hội dệt may, kim ngạch xuất khẩu của ngành đã vươn lên là một trong các mặt hàng đứng đầu trong danh mục mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (ước đạt 7,78 tỷ USD, tăng 33,4% so với thực hiện năm 2006) và đứng trong danh sách 10 quốc gia và vùng lãnh thổ có kim ngạch xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới.
Giá trị sản xuất tăng 17,9% so với năm 2006; Một số sản phẩm có tốc độ tăng trưởng khá, như: quần áo may sẵn ước đạt 1.324,2 triệu sản phẩm, tăng 14,6%; vải lụa thành phẩm 630 triệu m2, tăng 10,5%; quần áo dệt kim 172,2 triệu sản phẩm, tăng 7,3%; sợi toàn bộ 100,5 nghìn tấn, tăng 10,9%...
- Ngành Da Giầy: Là một ngành sử dụng nhiều lao động nhưng gặp khó khăn trong khâu tuyển dụng nên các doanh nghiệp chỉ ký được các đơn hàng vừa phải phù hợp với năng lực sản xuất của mình. Do vậy mức tăng trưởng của năm 2007 so với năm 2006 không cao cả về sản lượng sản xuất và kim ngạch xuất khẩu (giầy dép các loại ước đạt 285,0 triệu đôi, tăng 8,4%, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 3,96 tỷ USD, tăng 10,3% nhưng chưa đạt kế hoạch là 4,0 tỷ USD). Riêng nhóm các sản phẩm từ da khác như túi xách, vali, mũ, ô dù tăng trưởng khá, ước đạt 635 triệu USD, tăng 26,2% so với năm 2006.
- Ngành Thuốc lá: Do tình trạng thuốc lá nhập lậu giá rẻ, thuốc lá giả... không được ngăn chặn mà vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp; do diện tích vùng nguyên liệu bị nhiễm bệnh chiếm tỷ lệ cao và tình trạng tranh mua nguyên liệu (đặc biệt khu vực phía Nam) đã đẩy giá lên cao, nguồn nguyên liệu nhập khẩu không ổn định đã ảnh hưởng đến sản xuất của các doanh nghiệp. Quá trình chuyển đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng cường chất lượng, nâng tỷ lệ thuốc cao cấp đầu lọc tiến triển chậm. Sản lượng năm 2007 ước đạt 4,32 tỷ bao, tăng 9,6% so với năm trước. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 61 triệu USD, tăng 23,3% trong đó xuất khẩu thuốc lá điếu ước đạt 630 triệu bao (tăng 8,9%) và nguyên liệu thuốc lá ước đạt 5.045 tấn.
- Ngành Giấy: Mặc dù giá nguyên liệu bột giấy liên tục tăng do nhu cầu về gỗ nguyên liệu của các thị trường lớn như Ấn Độ, Trung Quốc... tăng mạnh (khoảng 20%) và lượng bột giấy tồn kho giảm so với cùng kỳ năm trước, song sản xuất kinh doanh của ngành vẫn đạt kết quả khả quan, sản lượng giấy bìa các loại ước đạt 1.189 nghìn tấn, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước, đáp ứng khoảng 60% tổng nhu cầu giấy các loại cả nước nên vẫn phải nhập khẩu thêm khoảng 841 nghìn tấn, chủ yếu là các loại giấy cao cấp.
Công tác phát triển nguồn nguyên liệu được quan tâm hơn. Riêng Tổng công ty Giấy Việt Nam năm 2007 đã trồng mới được 6,7 nghìn ha, rừng nguyên liệu chăm sóc 17,9 nghìn ha.
- Ngành Bia, Rượu, Nước giải khát: Bên cạnh khó khăn do giá nguyên liệu tăng mạnh (giá cao hoa tăng 2,16 lần; hoa viên tăng gần 1,8 lần; malt tăng gần 1,7 lần; hoa thơm tăng 1,5 lần ..), song nhờ đầu tư tăng cường năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và đẩy mạnh các hoạt động tiêu thụ, sản lượng bia năm 2007 ước đạt 1.845 triệu lít, tăng 19,3 % so với cùng kỳ năm trước, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng với chất lượng ngày càng cao. Một số chủng loại sản phẩm xuất khẩu đã được tăng lên. Riêng Tổng công ty Bia - Rượu - NKG Hà Nội giá trị xuất khẩu tăng gấp 3 lần và TCT Bia - Rượu - NGK Sài Gòn tăng 20,6%; thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng, đặc biệt là sang các nước và vùng lãnh thổ như Nga, CHLB Đức, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Campuchia, Hồng Kông…
- Ngành Nhựa: Tuy giá nguyên liệu bột nhựa cuối năm 2007 tăng gần 20% so với giá đầu năm nhưng các doanh nghiệp bằng nhiều giải pháp tiết giảm chi phí, đổi mới quản lý, đa dạng chủng loại, mẫu mã sản phẩm, chú trọng phát triển các sản phẩm nhựa kỹ thuật có chất lượng cao phục vụ các ngành công nghiệp ôtô, xe máy, điện, điện tử, điện lạnh…và các mặt hàng xuất khẩu và phục vụ xuất khẩu như bao bì nhựa đóng gói, văn phòng phẩm, nhựa mỹ nghệ, nhựa gia dụng, nhựa xây dựng tới các thị trường EU, Mỹ, Nhật, các nước ASEAN... nên đã đưa kim ngạch đạt 725 triệu USD, tăng 51% so với năm trước.
- Ngành Sữa: Các doanh nghiệp trong ngành gặp khó khăn do nguồn nguyên liệu sữa trên thế giới bị ảnh hưởng do chăn nuôi mất mùa và giá tăng cao, trong khi nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu chiếm 80%, nên mặc dù thuế nhập khẩu bột sữa đã được giảm 2 lần nhưng vẫn không hạn chế được ảnh hưởng của việc tăng giá. Các doanh nghiệp, nhất là Công ty CP Sữa Việt Nam đã đẩy mạnh công tác phát triển đàn bò lên 98.659 con, cung cấp được cho sản xuất được 234.437,9 tấn sữa nguyên liệu, góp phần giảm nhập khẩu và nâng cao đời sống của các hộ chăn nuôi.
- Ngành Dầu thực vật: Do ảnh hưởng bởi hạn hán đã tác động tới giá dầu thô nguyên liệu tăng 67 - 93% so với giá thời điểm cuối năm 2006. Sản xuất dầu thực vật của các doanh nghiệp chủ yếu từ nguyên liệu nhập khẩu, trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng, nên mặc dù nhiều doanh nghiệp như Công ty dầu Tường An, Tân Bình… đã nâng cao công suất, sản lượng cả năm ước đạt 534 nghìn tấn, tăng 34,1% so với cùng kỳ, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trên thị trường.
2. Tình hình hoạt động thương mại
2.1. Xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu năm 2007 tiếp tục đạt được những kết quả tích cực, thể hiện trên những mặt chủ yếu như sau:
- Quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu được duy trì ở mức cao, tỷ trọng hàng hóa chế biến, chế tạo, có hàm lượng công nghệ và chất xám cao tăng dần, tỷ trọng hàng hóa chưa qua chế biến giảm dần. Giá trị kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 48,387 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm 2006 (kế hoạch Chính phủ đề ra là 46,7 tỷ USD, tăng 17,4%), trong đó hàng hóa công nghiệp chiếm 76,3% tổng kim ngạch xuất khẩu (năm 2006 là 76,1%) tiếp tục là động lực cho hoạt động xuất khẩu, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu đạt 27,8 tỷ USD, chiếm 57,5% và tăng 21,0% so với năm 2006; khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 20,6 tỷ USD, chiếm 42,5% và tăng 22,2%.
- Về mặt hàng xuất khẩu, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch trên 1 tỷ USD (11 mặt hàng và nhóm hàng ) vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá (trừ dầu thô) là thủy sản, gạo, cà phê, cao su, than đá, dệt may, giầy dép, điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ và nhóm sản phẩm cơ khí; trong đó có 4 mặt hàng là dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản kim ngạch đạt trên 3 tỷ USD, 2 mặt hàng điện tử và sản phẩm gỗ đạt trên 2 tỷ USD. Một số nhóm hàng mới mặc dù có kim ngạch chưa cao nhưng tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh như dây điện và cáp điện tăng 25,6%; túi xách, vali, mũ, ô dù tăng 26,2%; sản phẩm nhựa tăng 52,0%; hàng thủ công mỹ nghệ tăng 18,9% . Kim ngạch xuất khẩu tuy tăng khá 21,5%, trong đó có yếu tố giá xuất khẩu tăng cao, những vẫn chưa đạt yêu cầu và còn thấp hơn mức tăng của một số năm trước (Chi tiết xem Phụ lục 1e).
- Về khu vực thị trường: Các thị trường truyền thống về xuất khẩu vẫn được duy trì, tuy có những biến động nhất định, cụ thể :
+ Thị trường Châu Á vẫn chiếm tỷ trọng lớn (43,8%,) với kim ngạch khoảng 21,0 tỷ USD và tăng 22,8% so với năm 2006 nhưng lại có xu hướng giữ nguyên hoặc giảm dần, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN. Nhóm hàng hoá xuất khẩu tăng chủ yếu là hàng nông sản và mặt hàng dây điện và cáp điện. Nhập siêu từ khu vực này có chiều hướng giảm do xuất khẩu tăng nhanh hơn nhập khẩu.
+ Thị trường Châu Âuchiếm 19,8% với kim ngạch đạt 9,6 tỷ USD, tăng 19,0% so với năm 2006, chủ yếu do tăng trưởng các mặt hàng dệt may, thủy sản, cao su tự nhiên, đồ gỗ, cà phê, sản phẩm nhựa, thủ công mỹ nghệ. Riêng mặt hàng xe đạp và giầy mũ da tiếp tục gặp khó khăn do EU áp thuế chống bán phá giá.
+Thị trường Châu Mỹ,chiếm 24,3%, với kim ngạch đạt 11,6 tỷ USD, tăng 28,0% so với năm 2006, trong đó chủ yếu là thị trường Hoa Kỳ với kim ngạch khoảng 10,2 tỷ USD, chiếm 21,3% tổng xuất khẩu cả nước.
+ Thị trường Châu Phi, Tây Nam Áhiện chiếm tỷ trọng nhỏ (3,8%)với kim ngạch đạt đạt 1,8 tỷ USD, tăng 23,0% so với năm 2006. Ngoại trừ các thị trường Cô-oét, Irắc và Pakistan tình hình chính trị còn nhiều bất ổn nên khả năng xuất khẩu còn hạn chế, các thị trường khác có mức tăng trưởng khá, trong đó có Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ và Israel.
Như vậy, so với năm 2006, qui mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tiếp tục được duy trì ở mức cao, các chỉ tiêu về tăng trưởng đều thực hiện đạt và vượt kế hoạch. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng xuất khẩu của cả nước.
- Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu có chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, nhóm hàng có hàm lượng công nghệ và chất xám cao như: thuỷ sản, dệt may, giầy dép, hàng điện tử và linh kiện điện tử, sản phẩm gỗ... ,giảm dần xuất khẩu hàng thô (mặc dù xét về kim ngạch thì nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản vẫn tăng cao do được giá).
- Tuy nhiên,qui mô xuất khẩu vẫn còn nhỏ bé, tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc và rất dễ bị tổn thương bởi các biến động bên ngoài như giá cả,các rào cản thương mại mới của nước ngoài...bởi sự phu thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu còn lớn.
- Sức cạnh tranh của hàng hoá chưa được cải thiện rõ rệt, cơ cấu mặt hàng còn chưa hợp lý thể hiện ở chỗ chủng loại đơn điệu, chậm xuất hiện những mặt hàng xuất khẩu mới có kim ngạch đáng kể; giá trị gia tăng thấp.
- Nhiều doanh nghiệp chưa nắm bắt được những cơ hội để thâm nhập và khai thác các thị trường xuất khẩu; chưa tận dụng triệt để lợi ích từ việc gia nhập WTO, các hiệp định thương mại song phương và khu vực đã ký kết giữa Việt Nam và các đối tác nhất là việc cắt giảm thuế quan để khai thác hết tiềm năng của các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc…
- Thị trường xuất khẩu tăng không đều, trong khi thị trường ASEAN, EU, Mỹ tăng khá cao thì một số thị trường quan trọng khác tăng chậm hoặc giảm như Trung Quốc, Nhật Bản và Ôxtrâylia.
2.2. Nhập khẩu và cán cân thương mại
Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2007 ước đạt 60,78 tỷ USD, tăng 35,4% so với năm 2006, trong đó doanh nghiệp 100% vốn trong nước nhập khẩu 39,27 tỷ USD, chiếm 64,6%, tăng 38,3% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 21,51 tỷ USD, chiếm 35,4%, tăng 30,5% so với năm 2006.
Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có trị giá tăng cao so với năm 2006 gồm: ô tô nguyên chiếc các loại tăng 145,5%; linh kiện ô tô tăng 82,2%; thép thành phẩm tăng 75,6%; phôi thép tăng 38,9%; phân bón các loại tăng 45,1%; sợi các loại tăng 36,8%; hóa chất nguyên liệu tăng 39,1%; máy móc, thiết bị, phụ tùng tăng 56,3%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 43,6%; vải tăng 33,6%....
Các mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch lớn thuộc nhóm máy móc, thiết bị phụ tùng, nguyên nhiên vật liệu (không kể xăng dầu) và chiếm 58% tỷ trọng tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó có một số mặt hàng chiếm tỷ trọng cao như: sắt thép, kim loại và phôi thép 6,7 tỷ USD; phân bón các loại 997 triệu USD; máy móc, thiết bị, phụ tùng 10,3 tỷ USD; hoá chất, chất dẻo nguyên liệu 3,9 tỷ USD, điện tử máy tính linh kiện 2,9 tỷ USD; vải, sợi, bông và nguyên phụ liệu dệt may, da 7,2 tỷ USD, gỗ nguyên liệu 1,0 tỷ USD, thức ăn gia súc và nguyên liệu 1,1 tỷ USD, tân dược và nguyên liệu 861 triệu USD.
Nhập siêu cả năm 2007 ước khoảng 12,3 tỷ USD tăng 144,7% so với năm 2006, bằng 25,6% kim ngạch xuất khẩu (năm 2006 là 12,7%). Đây là mức nhập siêu cao so với cùng kỳ nhiều năm qua do tác động của các nguyên nhân khách quan và chủ quan như: nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao, đầu tư nước ngoài tăng mạnh, giá và lượng một số mặt hàng nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu tăng, ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế theo cam kết và nhu cầu tiêu dùng, sức mua trong nước tăng cao.
Qua đó cho thấy nhập khẩu hàng hóa năm 2007 chủ yếu là máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên, nhiên phụ liệu đã đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển và sản xuất hàng hóa phục vụ trong nước và xuất khẩu, góp phần đổi mới công nghệ và hiện đại hóa sản xuất; đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp thời nhiều mặt hàng thiết yếu, đáp ứng đa dạng nhu cầu tiêu dùng trong nước; .Lượng hàng tiêu dùng nhập khẩu chiếm tỷ trọng nhỏ (trên 3%) trong tổng kim ngạch nhập khẩu (khoảng 2 tỷ USD). Tuy nhiên, nhập khẩu gia tăng nhanh chóng làm tăng nhập siêu không đạt mục tiêu kế hoạch đề ra.
2.3. Thương mại trên thị trường trong nước
Năm 2007, thị trường trong nước luôn sôi động với sự đa dạng, phong phú về chủng loại hàng hóa, dịch vụ và sự chuyển biến khá mạnh của hệ thống phân phối, đáp ứng đủ nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng xã hội. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ước đạt 726.113 tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2006. Đây là mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Cùng với kết quả đạt được trong xuất khẩu, thương mại trong nước góp phần tích cực vào mức tăng trưởng GDP trong năm.
Các hoạt động kiểm soát thị trường, giá cả, ngăn chặn hàng nhái, hàng giả, hàng nhập lậu, chống đầu cơ...đã dược tăng cường, góp phần bình ổn thị trương các mặt hàng trọng yếu của nền kinh tế như xăng dầu, sắt thép, phân bón, thuốc chữa bệnh, giấy viết... . Tuy nhiên do tác động của nhiều yếu tố bất lợi trong nước (bão, lũ, dịch bệnh...) và thế giới (giá dầu và giá vật tư tăng...), cùng với việc thực hiện lộ trinh giá thị trường một số mặt hàng như điện tăng 7,6%, than tăng 10 - 20%, xăng tăng 23,8%, dầu mazut tăng 41,6%...nên mặc dù Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ và quyết liệt (Bộ Công Thương cũng đã chỉ đạo các đơn vị nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 18/2007/CT-TTg và Chỉ thị số 23/2007/CT-TTg về kiềm chế tăng giá, bình ổn thị trường như giảm thuế nhập khẩu của một số nhóm hàng thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, phôi thép...;tiếp tục giãn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng đối với một số mặt hàng là nguyên liệu sản xuất; tổ chức kiểm tra chi phí mặt hàng thép, gas, sữa...nhưng giá cả nhiều mặt hàng vẫn tăng nhất là nhóm hàng lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng đã tác động tới việc tăng chỉ số giá tiêu dùng vượt mức yêu cầu
Đối với thị trường miền núi, hải đảo vẫn được các doanh nghiệp t hương mại bảo đảm cung cấp các mặt hàng chính sách như sách vở, muối ăn, dầu hỏa...Để phát triển thương mại ở các vùng này Bộ đã thực hiện tốt công tác xúc tiến thương mại và đào tạo nguồn nhân lực theo sự phân công nhiệm vụ của Chính phủ, đồng thời đề xuất với Chính phủ xem xét bổ sung một số quy định như thông quan hàng hóa qua các cửa khẩu phụ, quy định về hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa do cư dân biên giới nhập khẩu lưu thông trong nước,... trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới.
3. Hoạt động tài chính
3.1. Kết quả kinh doanh
Theo báo cáo của các doanh nghiệp thuộc Bộ, tổng doanh thu của các đơn vị năm 2007 ước đạt 662.086,6 tỷ đồng, tăng 18,1% so với năm 2006; trong đó một số doanh nghiệp có mức tăng cao hơn bình quân gồm: Tập đoàn Điện lực tăng 22,2%, TCT Thép 47,4%, TCT Hoá chất 26,3%, TCT Thuốc lá 20,9%, TCT Giấy 21,8%, TCT Máy động lực và máy nông nghiệp 83,5%, TCT Thiết bị điện 33,6%, TCT Bia - Rượu - NGK Hà Nội 23,5%, TCT Bia - Rượu - NGK Sài Gòn 33,9%, Công ty Dầu thực vật - Hương liệu - Mỹ phẩm 59,6%, Công ty Nhựa Việt Nam 36,0%, Công ty Giao nhận kho vận ngoại thương Hà Nội 27,8%, Công ty Điện máy Hải Phòng gấp 2,23 lần, Công ty XNK thiết bị toàn bộ và kỹ thuật 36,5% (Phụ lục 1c).
Riêng doanh thu sản xuất công nghiệp ước đạt 329.699,4 tỷ đồng, tăng 11% so với năm trước; trong đó một số doanh nghiệp tăng khá gồm: Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản, TCT Thép, TCT Hoá chất, TCT Giấy, TCT Máy động lực và máy nông nghiệp, TCT Thiết bị điện, TCT Bia - Rượu - NGK Hà Nội, Công ty Dầu thực vật - Hương liệu - Mỹ phẩm, Viện Máy và dụng cụ công nghiệp, Công ty Nhựa Việt Nam (Phụ lục 1d).
3.2. Thu nhập của người lao động
Theo thống kê sơ bộ, số cán bộ công nhân viên của Bộ Công Thương có 463.453 người, trong đó khối doanh nghiệp 456.073 người và khối hành chính sự nghiệp 7.416 người. Thu nhập bình quân khoảng 2,8 triệu đồng/người/tháng; trong đó: khối sản xuất kinh doanh 3,2 triệu đồng/người/tháng và khối hành chính sự nghiệp 2,5 triệu đồng/người/tháng (Chi tiết xem Phụ lục 1k).
3.3. Tình hình kiểm tra, giám sát tài chính doanh nghiệp
Thực hiện Quyết định số 224/2006/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, để kịp thời triển khai công tác kiểm tra giám sát và đánh giá hiệu quả doanh nghiệp, mặc dù chưa có hướng dẫn của Bộ Tài chính, ngày 07 tháng 02 năm 2007 Bộ đã có Quyết định số 10/BCN - TCKT ban hành Quy chế tổ chức kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty thuộc Bộ Công nghiệp và văn bản số 900/BCN-TCKT ngày 05 tháng 03 năm 2007 đề nghị các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty và các đơn vị hành chính sự nghiệp đăng ký và báo cáo Bộ chương trình tự kiểm tra, giám sát tài chính năm 2007 bằng các hình thức tự tổ chức kiểm tra, giám sát nội bộ, thuê kiểm toán độc lập hoặc thông qua các chương trình thanh tra, kiểm toán nhà nước. Đồng thời tổ chức việc thẩm tra, đánh giá và phân loại các doanh nghiệp thành viên theo các tiêu chí đã được các cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Qua theo dõi có thể đánh giá các doanh nghiệp thuộc Bộ đã duy trì đều đặn công tác kiểm tra giám sát tài chính doanh nghiệp, kịp thời xử lý các tồn tại để lành mạnh hóa các hoạt động tài chính, hạn chế công nợ dây dưa, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc Bộ, thực hiện Quyết định số 874/QĐ-KTNN ngày 2 tháng 7 năm 2007 của Tổng Kiểm toán Nhà nước về việc kiểm toán ngân sách nhà nước năm 2006 tại Bộ Công Thương. Đoàn Kiểm toán Nhà nước đã tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính năm 2006 của 23/50 đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc Bộ Công Thương, trong đó thuộc lĩnh vực công nghiệp có 14/38 đơn vị, lĩnh vực thương mại có 9/12 đơn vị. Qua kiểm toán cho thấy công tác quản lý tài chính ở hầu hết các đơn vị nhìn chung đã thực hiện theo chế độ nhà nước quy định, các đơn vị đã thực hiện công khai dự toán và tài chính, giao quyền tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính. Khối Văn phòng Bộ Công Thương trong năm 2006 đã tiết kiệm 10% chi phí thường xuyên để bổ sung nguồn thực hiện cải cách tiền lương. Trong đó đã phấn đấu giảm chi tiêu điện nước, xăng xe và chi phí sửa chữa thường xuyên tiết kiệm.
Tuy vậy vẫn còn một số đơn vị chưa tính đầy đủ khoản thuế thu nhập cá nhân đối với một số đối tượng phải nộp thuế; thu lệ phí nhập học không đúng quy định; kinh phí khoa học và sự nghiệp môi tr­ường triển khai chưa bám sát theo kế hoạch đã đăng ký; một số nội dung chi sử dụng không đúng với nội dung nguồn kinh phí, định mức, tiêu chuẩn, hoặc chư­a đ­ược quy định cụ thể trong quy chế chi tiêu nội bộ; chi đoàn ra, hội nghị, sự nghiệp khoa học và môi tr­ường còn một số khoản ch­ưa đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả; công tác quản lý nợ phải thu, phải trả, tạm ứng tại một số đơn vị ch­ưa chặt chẽ dẫn đến một số khoản nợ dây d­ưa, không rõ chủ nợ và khó có khả năng thu hồi.
III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
1. Về sản xuất công nghiệp
Theo báo cáo của các Sở Công nghiệp năm 2007, công nghiệp địa phương đã có những chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp quốc doanh và tăng tỷ trong công nghiệp dân doanh, trong đó công nghiệp ngoài quốc doanh và đầu tư nước ngoài có tăng trưởng cao, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò cơ cấu nền kinh tế. Cụ thể, khu vực quốc doanh địa phương chỉ còn chiếm tỷ trọng 6,57% (thấp hơn năm 2006 là 0,9%); khu vực ngoài quốc doanh đạt 268.432 tỷ đồng tăng 20,9%, chiếm tỷ trọng 36,9% (cao hơn năm 2006 là 1,14%); khu vực này đóng vai trò chủ đạo trong giá trị sản xuất công nghiệp của phần lớn các địa phương (58/64 tỉnh, thành phố), trong đó một số tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao là: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Giang, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh, Lai Châu, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An[1]...
1.1. Vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung bộ: Tổng giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) ước thực hiện 249.517,4 tỷ đồng đạt 99% kế hoạch năm và tăng 21,6% so với cùng kỳ năm 2006. Các tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng bình quân toàn khu vực: Vĩnh Phúc 41,4%, Hà Tây 25,1%, Bắc Ninh 29,4%, Hưng Yên 28,2%, Hà Nam 21,8%, Nam Định 25%, Thái Bình 26,4%, Hà Giang 25,4%, Tuyên Quang 25,7%, Thái Nguyên 23,8%, Lai Châu 37,4%, Sơn La 26,7%, Hoà Bình 31,1%, Hà Tĩnh 25,6%.
1.2. Vùng duyên hải miền Trung và Tây Nguyên: Tổng giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) ước thực hiện 51.805,2 tỷ đồng đạt 97,9% kế hoạch năm và tăng 21% so với cùng kỳ năm 2006. Các tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng bình quân toàn khu vực: Đăk Nông 37,8%; Gia Lai 34,3%; Bình định 30,0%; Quảng Nam 29,7%; Kon Tum 28,2%, Đăk Lăk 23,4%; Quảng Bình 23,1%; Thừa Thiên Huế 21,3%. Ba tỉnh có giá trị sản xuất công nghiệp chiếm gần 52% GTSXCN của toàn vùng là Khánh Hòa đạt 11.454 tỷ đồng, Đà Nẵng đạt 10.180 tỷ đồng, Quảng Nam đạt 5.284,3 tỷ đồng, nhưng chỉ có tỉnh Quảng Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bình của toàn vùng là 29,7%, trong khi Khánh Hoà và Đà Nẵng chỉ đạt tốc độ tăng trưởng tương ứng là 12,7% và 19,57%.
1.3. Vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ: Tổng giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) ước thực hiện 426.138 tỷ đồng đạt 99,6% kế hoạch năm và tăng 17,69% so với cùng kỳ năm 2006. Các tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng bình quân toàn khu vực: Bình Phước tăng 25,91%; Bình Dương tăng 24,83%; Đồng Nai tăng 22,41%; Vĩnh Long tăng 37,2%; Tiền Giang tăng 45,65%; Hậu Giang tăng 29,42%; Đồng Tháp tăng 36,44%; Long An tăng 27,85% Bến Tre tăng 24,13%.
2. Về hoạt động khuyến công
Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/QĐ-CP ngày 20/8/2007 về phê duyệt chương trình khuyến công quốc gia đến năm 2012, tạo thuận lợi rất lớn cho việc triển khai các hoạt động khuyến công trong những năm tới. Quyết định 136/QĐ-TTg đã định hướng thống nhất về hoạt động khuyến công trong phạm vi cả nước và tạo động lực mạnh mẽ khuyến khích các địa phương, tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển công nghiệp nông thôn và tổ chức hoạt động khuyến công. Kết quả nổi bật như sau:
- Đến nay tất cả các tỉnh đã thực hiện hoạt động khuyến công với nhiều nguồn vốn, hình thức tổ chức hoạt động khác nhau. Tổng kinh phí khuyến công Trung ương và địa phương theo kế hoạch năm 2007 là 76,962 tỷ đồng, tăng 29,1% so với năm 2006. Trong đó, kinh phí khuyến công quốc gia là 20 tỷ tăng 2 lần so với năm 2006; kinh phí khuyến công địa phương 56,962 tỷ, tăng 14,8% so với năm 2006.
- Đã có 64 tỉnh, thành phố thành lập Trung tâm Khuyến công hoặc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (trong đó có 30 Trung tâm Khuyến công; 33 Trung tâm Khuyến công và TVPTCN và 1 Trung tâm Tư vấn hỗ trợ DNCN). Tổng số lao động ở các Trung tâm là 556 người, bình quân 8,8 người/Trung tâm. Đây là lực lượng nòng cốt của tổ chức dịch vụ khuyến công, thể hiện sự đúng đắn của chủ trương khuyến khích phát triển dịch vụ khuyến công trong Nghị định số 134/2004/NĐ-CP.
- Hoạt động khuyến công đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế - lao động, tăng giá trị sản xuất công nghiệp tại các địa phương, đặc biệt là các tỉnh công nghiệp chưa phát triển; công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng ngày càng cao, tạo được nhiều việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn.
- Tiếp tục huy động, phối hợp nguồn lực của các tổ chức chính trị - xã hội, Bộ, ngành tham gia vào sự nghiệp phát triển công nghiệp nông thôn. Nhiều địa phương đã lồng ghép được nguồn vốn từ Chương trình 135, tái định cư, khuyến nông, vốn BSPS, GTZ... vào hoạt động khuyến công như Lâm đồng, Khánh Hoà, Quảng Nam….
Năm 2007, mặc dù nguồn kinh phí khuyến công quốc gia mới được bố trí 20 tỷ đồng nhưng đã triển khai được 208 đề án khuyến công trên địa bàn của 61 tỉnh, thành phố. Hỗ trợ đào tạo nghề cho 16.361 lao động, tăng 56,60% so với năm 2006. Tạo công ăn việc làm cho 15.821 lao động, tăng 90,20% so với năm 2006 do các hoạt động đào tạo nghề gắn với các doanh nghiệp sử dụng trực tiếp lao động hoặc tổ chức sản xuất và bao tiêu sản phẩm. Thu nhập bình quân từ 400.000- 550.000 đồng/người/tháng đối với lao động không thường xuyên; 600.000- 1.000.000 đồng/người/tháng đối với những lao động thường xuyên; Hỗ trợ đầu tư xây dựng 74 mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất sản phẩm mới, công nghệ mới, tăng 2,5 lần so với năm 2006, thu hút được 574,449 tỷ đồng vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn[2]; Tổ chức được 6 lớp đào tạo khởi sự doanh nghiệp công nghiệp nông thôn cho 300 học viên, nâng cao năng lực quản lý cho 800 chủ cơ sở CNNT (tăng 2,0 lần so với năm 2006), tổ chức được 08 hội thảo về hội nhập kinh tế Quốc, 1 hội thảo về mô hình quản lý và kinh doanh điện nông thôn (tăng 4,5 lần so với năm 2006)….
IV. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐẦU TƯ VÀ GIÁM SÁT ĐẦU TƯ TRONG NGÀNH CÔNG THƯƠNG NĂM 2007
1. Đầu tư trong nước
Trước những biến động về giá cả vật tư và các chi phí khác, trong đó có tiền lương biến động tăng; ảnh hưởng của tình hình bão lũ ở nhiều địa phương...Bộ đã tăng cường chỉ đạo các chủ đầu tư đẩy nhanh công tác thẩm định điều chỉnh thiết kế, dự toán từng hạng mục, tổng dự toán, điều chỉnh Tổng mức đầu tư..., nâng cao năng lực quản lý dự án của các Ban quản lý; rà soát tiến độ của từng dự án để tập trung nguồn lực khắc phục những ảnh hưởng nói trên để đảm bảo tiến độ các công trình, đồng thời chú trọng công tác an toàn và chất lượng trong thi công; duy trì chế độ giao ban các công trình quan trọng quốc gia và các công trình trọng điểm của ngành. Tuy vậy, tiến độ các dự án nhìn chung còn chậm so với yêu cầu do công tác giải phóng mặt bằng, công tác giải ngân, công tác điều chỉnh thiết kế, dự toán còn nhiều vướng mắc, kéo dài.
Kết quả thực hiện vốn đầu tư xây dựng thực hiện năm 2007 của Bộ Công Thương ước đạt 97.432,8 tỷ đồng , tăng 32,6% so với năm 2006 (Phụ lục 2a), trong đó các Tập đoàn, Tổng công ty 91 đạt 91.898 tỷ đồng, tăng 29%; Các Tổng công ty 90, các doanh nghiệp đạt 5.089,5 tỷ đồng, tăng 264%; Các đơn vị hành chính, sự nghiệp đạt 354 tỷ đồng, tăng 78%
Tiến độ cụ thể các dự án lớn của ngành nêu tại Phụ lục 2c.
2. Đầu tư nước ngoài
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (ĐTNN) năm 2007 tiếp tục thu được những kết quả vượt trội. Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ĐTNN vào Việt Nam cả cấp mới và tăng vốn đạt khoảng 20,3 tỷ USD, trong đó vốn cấp mới là trên 17,83 tỷ USD, vốn tăng thêm (tính đến 22/12) là 2,47 tỷ USD, tăng 69,2% so với năm 2006 (12 tỷ USD). Kết quả đó nhờ môi trường đầu tư - kinh doanh đã được tiếp tục cải thiện, công tác xúc tiến đầu tư cũng có hiệu quả hơn, công tác cải cách hành chính đã có tiến bộ.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép trong năm tập trung chủ yếu vào khu vực công nghiệp và dịch vụ. Chỉ tính đến ngày 22 tháng 12 năm 2007, trong tổng số 1.445 dự án được cấp phép đã có 823 dự án ĐTNN vào ngành công nghiệp (bằng 57% tổng số dự án ĐTNN cả nước) với tổng vốn đăng ký 8,06 tỷ USD bằng (45,2% tổng vốn đăng ký cả nước), trong đó vốn điều lệ 3,12 tỷ USD (bằng 51,8% tổng vốn điều lệ cả nước). Quy mô vốn đầu tư tính bình quân cho 1 dự án đã đạt 12,4 triệu USD, cao hơn mức bình quân cùng kỳ năm trước - 8,5 triệu USD, số dự án có quy mô lớn (trên 40 triệu USD) tăng thêm, trong số đáng kể có dự án Xây dựng nhà máy lọc dầu Vũng Rô tại Phú Yên, tổng vốn đầu tư 1,7 tỷ USD. Riêng số dự án về dịch vụ là 301 dự án với tổng vốn đăng ký 376,8 triệu USD, trong đó vốn pháp định 165,4 triệu USD (Chi tiết xem Phụ lục 2b).
3. Công tác giám sát, đánh giá đầu tư
Tiếp tục thực hiện việc tăng cường hoạt động giám sát đầu tư Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) đã có Chỉ thị số 06/CT-BCN ngày 09 tháng 5 năm 2007 yêu cầu đẩy mạnh công tác giám sát, đánh giá đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách, vốn tín dụng nhà nước; Riêng các Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty, Công ty tổ chức rà soát lại tiến độ dụ án có biện pháp chỉ đạo, giám sát, xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh để đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm quốc gia, các công trình lớn của các ngành điện, thép, phân bón, giấy... Tăng cường năng lực con người và bộ máy quản lý, đảm bảo thực hiện đúng trình tự thủ tục đầu tư; đẩy mạnh hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư tổng thể và từng dự án theo quy định, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thất thoát.
Thực hiện Chỉ thị này trong năm 2007 Bộ Công Thương đã tiến hành giám sát tổng thể đầu tư 04 đơn vị và giám sát đầu tư 17 dự án thuộc các ngành quản lý. Ngoài ra, Bộ còn tham gia với các Đoàn công tác của Chính phủ, Quốc hội giám sát, đánh giá các dự án quan trọng Quốc gia, các dự án trọng điểm ngành như Thủy điện Sơn La, Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Đạm Phú Mỹ, dự án kết nối các mỏ của Dàn khoan Mỏ Đại Hùng; kiểm tra định kỳ về tiến độ các dự án nhiệt điện Uông bí mở rộng, Quảng Ninh, xi măng Thái Nguyên, DAP Đình Vũ - Hải Phòng.
Qua giám sát đánh giá tổng thể đầu tư ở các đơn vị cho thấy các dự án đầu tư đang triển khai thực hiện đều nằm trong quy hoạch phát triển các ngành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trình tự, thủ tục lập, thẩm định phê duyệt dự án, phê duyệt thiết kế kỹ thuật (TKKT), tổng dự toán, kế hoạch đấu thầu, tổ chức đấu thầu và lựa chọn nhà thầu được thực hiện cơ bản đảm bảo theo quy định Nhà nước và theo thẩm quyền; công tác nghiệm thu, thanh quyết toán khối lượng và vốn đầu tư đảm bảo theo tiến độ thực hiện, không để tình trạng nợ khối lượng hoặc không có nguồn vốn thanh toán.
Tuy nhiên cũng còn một số tồn tại chủ yếu sau:
- Công tác tư vấn lập dự án đầu tư, thẩm định, phê duyệt dự án, lập và phê duyệt TKKT, tổng dự toán một số dự án có quy mô và tính chất phức tạp còn kéo dài, chất lượng chưa cao phải bổ sung, chỉnh sửa nhiều lần làm ảnh hưởng tiến độ triển khai dự án, như: Dự án (nhóm B) Khai thác phần lò giếng khu Cánh Gà - Công ty Than Vàng Danh, dự án thuỷ điện Bản Vẽ.
- Về trình tự thủ tục đầu tư, có một số dự án chưa đảm bảo đúng quy định, thi công hạng mục công trình trước khi dự án phê duyệt, như: Một số hạng mục công trình mặt bằng san nền cửa giếng, cổ giếng, công trình giếng chính, giếng phụ nối 02 giếng... thuộc dự án khai thác phần lò giếng khu Cánh Gà - Công ty Than Vàng Danh, dự án Mở rộng căn cứ Dịch vụ kỹ thuật dầu khí Hạ lưu của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia VN mà nguyên nhân chính là năng lực của các đơn vị tư vấn trong nước, như một số đơn vị tư vấn ngành Than, ngành Điện tuy đã được nâng cao, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu tiến độ dự án và yêu cầu phát triển của ngành. Ngoài ra những thay đổi về cơ chế, chính sách trong quản lý đầu tư xây dựng trong thời gian qua; một số công tác có tính đặc thù chưa xây dựng, ban hành được định mức, đơn giá và những yếu tố biến động của thị trường giá cả cũng ảnh hưởng tiến độ, chất lượng công tác tư vấn đầu tư, xây dựng dự án.
- Về công tác đấu thầu, nhìn chung thủ tục, trình tự tổ chức đấu thầu các gói thầu theo kế hoạch đấu thầu bảo đảm quy định hiện hành và các cơ chế đặc thù được Thủ tướng Chính phủ cho phép với một số dự án đầu tư thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, như đối với các công trình thủy điện và các công trình khai thác than. Tuy nhiên phương pháp đánh giá, phân tích hồ sơ dự thầu của một số Chủ đầu tư còn thể hiện thiếu tính chặt chẽ, khoa học , chưa thể hiện tính độc lập của mỗi thành viên trong Tổ chuyên gia đấu thầu, chất lượng một số hồ sơ mời thầu với các gói thầu đấu thầu rộng rãi còn thấp, dẫn đến đấu thầu lại nhiều lần hoặc việc đánh giá kết quả lựa chọn nhà thầu chưa chuẩn xác gây khiếu kiện.
- Về tiến độ thực hiện của phần lớn các dự án được giám sát đều bị kéo dài như dự án di chuyển và đầu tư chiều sâu của Công ty CaRic, dự án Dây chuyền kéo sợi 20.000 cọc thuộc Công ty Dệt May Hoà Thọ...Ngoài ra công tác ký kết hợp đồng kinh tế xây dựng cũng còn có những sai sót, việc thu xếp vốn và giải ngân của một số dự án gặp nhiều khó khăn....
V. HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Nhìn chung, công tác quản lý nhà nước của các Bộ Công nghiệp và Thương mại trước đây, nay là Bộ Công Thương, đã và đang đi vào nền nếp. Ngoài những nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ đã chủ động đề xuất và thực hiện một số nhiệm vụ khác để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, đã góp phần thúc đẩy sản xuất toàn ngành phát triển với tốc độ cao. Dưới đây là một số hoạt động quản lý nhà nước cần lưu ý.
1. Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Theo Chương trình công tác năm 2007 của Chính phủ, Bộ đã ban hành 55 đề án văn bản quy phạm pháp luật; 05 nghị định và 13 quyết định đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Đã ban hành 56 văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền (gồm 54 quyết định, 15 thông tư và 06 thông tư liên tịch); Tham gia góp ý 184 văn bản của các Bộ, ngành hữu quan;… Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo chất lượng và tiến độ, góp phần thực hiện quản lý Nhà nước đối với ngành đồng thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.
Công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình. Đã kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực công nghiệp tại các tỉnh Lai Châu, Khánh Hòa, Lào Cai, Thái Nguyên, rà soát pháp luật trong nước trước và sau khi gia nhập WTO; kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật Thương mại và giải quyết thủ tục hành chính tại các tỉnh; kiểm tra chồng chéo giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công nghiệp (cũ), đồng thời đã giải đáp thắc mắc cho địa phương và doanh nghiệp về các lĩnh vực điện, công nghiệp địa phương. Trên cơ sở ý kiến của Bộ, các địa phương đã có sửa đổi kịp thời.
Công tác phổ biến, tuyên truyền văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách mới của Nhà nước được chú trọng thực hiện dưới nhiều hình thức như phát hành bản tin, ban hành trên website của Bộ; Tổ chức hội thảo “Khả năng gia nhập của VN vào các Điều ước đa phương chủ yếu có ảnh hưởng đến thương mại”; biên soạn và xuất bản sách “Một số Điều ước đa phương thường được sử dụng trong Thương mại Quốc tế” để phổ biến pháp luật quốc tế; tổ chức cuộc thi tìm hiểu Luật Cư trú…
Bộ cũng đã xây dựng Thông tư liên tịch và các Quy chế hoạt động, phối hợp liên ngành của Ban Chỉ đạo hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới; Quy chế chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu trên đất liền để tăng cường quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
2. Công tác xây dựng chiến lược và quy hoạch
Đây là một công tác luôn được Bộ quan tâm trong nhiều năm qua. Riêng năm 2007 đã triển khai lập mới 9 dự án quy hoạch phát triển các chuyên ngành công nghiệp và quy hoạch phát triển công nghiệp các Vùng và tính đến ngày 22 tháng 12 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt được 03 quy hoạch, 1 chương trình (Chương trình khuyến công quốc gia) và thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng đã phê duyệt được 11/22 quy hoạch, các quy hoạch còn lại đang được tích cực triển khai (Xem Phụ lục 3b).
Ngoài các quy hoạch ngành, Bộ cũng đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với các địa phương trên cả nước xây dựng mới và rà soát quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đảm bảo phù hợp với quy hoạch kinh tế - xã hội và phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, đảm bảo tính liên ngành, liên vùng và mang lại hiệu quả cao. Từ năm 2006 tới nay, Bộ đã tiến hành thẩm định phê duyệt 62 quy hoạch phát triển Điện lực các địa phương theo chức năng nhiệm vụ của Bộ.
Các quy hoạch ngành được xây dựng ngày càng có chất lượng hơn, bảo đảm sự gắn kết với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các ngành, địa phương có liên quan nên nội dung các quy hoạch đều tuân thủ các mục tiêu chung của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như các chủ trương, định hướng của Đảng và nhà nước thực sự trở thành cơ sở pháp lý để quản lý và là những định hướng quan trọng để phát triển ngành và cho các nhà đầu tư.
Tuy vậy, trong lĩnh vực xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch ngành còn có nhiều khó khăn như kinh phí xây dựng hạn chế (các quy hoạch vừa qua được cấp kinh phí theo Quyết định 519/2002/QĐ-BKH ngày 26 tháng 8 năm 2002 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành tạm thời khung giá, định mức chi phí xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ngành, lãnh thổ; khi ban hành Quyết định 281/2007/QĐ-BKH ngày 26 tháng 3 năm 2007 thay thế Quyết định 519 nhưng vốn không được bổ sung) kinh phí lập và thẩm đinh Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC): theo Thông tư số 114/TTLT-BTC-TNMT ngày 29 tháng 12 năm 2006 của liên bộ Tài chính - Tài nguyên và Môi trường cũng quá hạn hẹp; thủ tục thẩm định, trình duyệt theo Nghị định 92/CP còn nhiều vướng mắc nhưng chậm được sủa đổi.
3. Công tác tổ chức cán bộ
Một trong những hoạt động nổi bật trong năm 2007 là việc thực hiên các trình tự, thủ tục cho việc hợp nhất Bộ theo Nghị quyết của Quốc hội khóa XII. Bộ đã triển khai một cách nghiêm túc, kịp thời và bảo đảm sự ổn định về tư tưởng cũng như các hoạt động của Bộ. Chính vì vậy mà hoạt động của ngành công thương trong thời gian 5 tháng qua vẫn ổn định và tiếp tục có sự tăng trưởng trong hoạt động sản xuất công nghiệp cũng như hoạt động thương mại.
Cho đến nay có thể nói sự chuẩn bị các văn bản pháp lý liên quan tới cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Bộ, các cơ quan thuộc Bộ, các Sở Công Thương đã sẵn sàng. Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương, Bộ sẽ tích cực triển khai để hoàn tất việc sắp xếp bộ máy hoạt động của ngành được thông suốt từ trung ương tới địa phương.
Bên cạnh đó, các nhiệm vụ thường xuyên vẫn được thực hiện một cách tích cực như ban hành các Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp, Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế công nghiệp, Quy chế Tổ chức và Hoạt động của Trường Cao đẳng Kinh tế công nghiệp Hà Nội; Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật thương mại; các Quyết định đổi tên một số đơn vị như Công ty Hợp tác Đào tạo và Xuất khẩu lao động (Trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội), Trường Cao đẳng Công nghiệp Xây lắp điện ; triển khai tổ chức cơ quan thương vụ bên cạnh WTO theo chỉ đạo của Chính phủ; triển khai xây dựng Quy hoạch cán bộ theo Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị; tổ chức lấy phiếu tín nhiệm, đánh giá đối với cán bộ chủ chốt ở cơ quan Bộ; quyết định công tác cán bộ thuộc Bộ và ở một số doanh nghiệp theo thẩm quyền để trình Thủ tưởng Chính phủ.
Thực hiện giao đơn giá tiền lương, xếp loại doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ; nâng lương thường xuyên cho cán bộ công chức, viên chức các đơn vị thuộc Bộ; phê duyệt phân chỉ tiêu biên chế hành chính năm 2007 và xây dựng kế hoạch biên chế hành chính năm 2008. Triển khai thực hiện Nghị định 110 đối với doanh nghiệp, Ngh?? định 132 đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp về tinh giảm biên chế.
Ngoài ra, Bộ còn đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng và thực hiện qui hoạch, kế hoạch đào tạo nhân lực cho ngành, thông qua các lớp bồi dưỡng cán bộ công chức, mở thêm ngành nghề đào tạo của các trường trực thuộc Bộ.
4. Công tác thanh tra
Trong năm 2007, thực hiện kế hoạch thanh kiểm tra đã được ban hành, Bộ đã tiến hành 10 cuộc thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong quản lý, sử dụng vốn ngân sách và hoạt động sự nghiệp có thu; trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ; trong liên kết đào tạo, trong đầu tư xây dựng và mua sắm vật tư, trang thiết bị; làm rõ những nội dung đơn thư của công dân phản ánh có liên quan. Qua việc thanh, kiểm tra, Bộ đã yêu cầu các đơn vị có sai phạm chấn chỉnh lại công tác quản lý tài chính và quản lý đầu tư xây dựng, tổ chức rút kinh nghiệm, kiểm điểm nghiêm túc các tập thể, cá nhân có khuyết điểm và có biện pháp khắc phục, đảm bảo thực hiện đúng các quy định hiện hành của Nhà nước.
Trong lĩnh vực Điện lực, đã kiểm tra 04 đơn vị thuộc Tập đoàn Điện lực và các Sở Công nghiệp cho thấy các đơn vị đã tích cực triển khai thực hiện Luật Điện lực và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các Sở Công nghiệp tỉnh, thành phố đã thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về điện tại địa phương.
Trong lĩnh vực Thương mại, đã kiểm tra về tài chính một số đơn vị thuộc Bộ; kiểm tra, hướng dẫn một số Sở Thương mại về hoạt động chuyên ngành thanh tra; kiểm tra về quản lý, hoạt động một số Thương vụ ở nước ngoài. Tuy nhiên, các hoạt động kiểm tra nhằm phục vụ quản lý của Bộ và hướng dẫn đơn vị thực hiện, chưa phát hiện và xử lý sai phạm.
Trong năm Bộ đã tiếp 20 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo với nội dung phản ánh chủ yếu về năng lực lãnh đạo, phẩm chất cán bộ tại đơn vị và giải quyết chế độ đối với người lao động.
Tổng số đơn thư phát sinh là 182 đơn (Khiếu nại là 35 đơn; tố cáo, phản ánh, kiến nghị là 147 đơn). Trong đó: Không thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ là 74 đơn; thuộc thẩm quyền của Bộ và cấp dưới là 108 đơn. Nội dung khiếu nại chủ yếu là vi phạm chế độ, chính sách đối với người lao động, giải quyết nhà ở, đất đai và thực hiện chính sách đền bù không thoả đáng… Nội dung tố cáo chủ yếu tập trung vào vi phạm chế độ quy định trong quản lý kinh tế tài chính, tuyển dụng, bố trí cán bộ, tiêu cực trong đầu tư xây dựng… của một số lãnh đạo đơn vị. Nhìn chung, các đơn thư đã được xử lý kịp thời, đúng thẩm quyền, đúng nguyên tắc và theo đúng quy định của pháp luật.
5. Công tác hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế
Sau khi nước ta trở thành thành viên của WTO, thực hiên chỉ đạo của Chính phủ, Bộ đã tổ chức quán triệt Nghị quyết 16/2007/NQ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2007 của Chính phủ về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới” trong toàn ngành, xây dựng và ban hành Chương trình hành động của ngành để thực hiện Nghị quyết. Trên tinh thần đó, các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước cũng xây dựng Chương trình hành động của mình và Bộ đang thực hiện việc tổng hợp đánh giá.
Trên cơ sở báo cáo chưa đầy đủ của các Bộ, ngành địa phương có thể đánh giá tổng quát công tác hội nhập thực thi các cam kết WTO cũng như Nghị quyết 16 của Chính phủ đã được thực hiện nghiêm túc. Các Bộ, ngành địa phương đều tổ chức tuyên truyền, quán triệt tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, đánh giá đúng cơ hội và thách thức để chủ động đề ra các giải pháp đảm bảo cho hoạt động của ngành mình, địa phương mình tiếp tục phát triển. Trong dịp kỷ niệm 1 năm ngày gia nhập WTO (11/01/2007-11/01/2008) Bộ sẽ có báo cáo đánh giá đầy đủ về vấn đề này.
Thực thi cam kết WTO, Bộ đã phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng 03 Nghị định quy định chi tiết Luật Thương mại và 01 Quyết định công bố lộ trình thực thi cam kết về các hoạt động mua bán hàng hoá tại VN; Tham gia chuẩn bị quan điểm đàm phán Vòng Doha trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Trong hợp tác kinh tế ASEAN, đã nỗ lực triển khai nhiều biện pháp quan trọng như: Thực hiện Nghị định thư hội nhập nhanh 11 lĩnh vực ưu tiên, bổ sung lĩnh vực logistics; ký kết Nghị định thư thực hiện gói cam kết dịch vụ thứ 6 trong khuôn khổ Hiệp định Khung ASEAN về dịch vụ; tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12 đã ra Tuyên bố chung về Kế hoạch tổng thể và Lộ trình chiến lược xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015. Trong hợp tác kinh tế giữa ASEAN với các đối tác ngoài khối, đã hoàn thành đàm phán hiệp định về Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản; ký kết Hiệp định về thương mại dịch vụ ASEAN - Hàn Quốc và đặc biệt là đã chính thức khởi động đàm phán khu vực mậu dịch tự do ASEAN và EU do Việt Nam là nước điều phối của ASEAN.
Ngoài ra Bộ đã chủ động và tích cực tham gia APEC nhằm nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam; xây dựng các Chương trình hợp tác kinh tế kỹ thuật song phương, đa phương trong khuôn khổ APEC, cải cách APEC hướng tới mục tiêu tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại đầu tư; phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng và bảo vệ dự án nâng cao năng lực do APEC tài trợ; Tận dụng Diễn đàn APEC để tăng cường cơ hội thúc đẩy các quan hệ hợp tác song phương và hợp tác khu vực...
6. Công tác khoa học, công nghệ và môi trường
Trong năm, Bộ đã và đang triển khai một số đề án khoa học công nghệ, như: Đổi mới, hiện đại hoá công nghệ trong các ngành công nghiệp bảo quản, chế biến nông - lâm - thuỷ sản đến năm 2015, định hướng 2025; Đề án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực công nghiệp chế biến; Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015 tầm nhìn 2020; Đề án An toàn sinh học; Đề án đổi mới hiện đại hoá công nghiệp khai khoáng.
Đồng thời Bộ đã tiến hành nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học công nghệ (KHCN) năm 2006 và giao nhiệm vụ KHCN năm 2007 cho 101 tổ chức KHCN và đơn vị với tổng kinh phí là 96,270tỷ đồng, bao gồm các nhiệm vụ KHCN cấp Nhà n­ước , nhiệm vụ KHCN cấp Bộ, nhiệm vụ thuộc "Đề án triển khai hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại TBT" , nhiệm vụ sản xuất thử nghiệm , nhiệm vụ thông tin KHCN , nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn một số ngành , nhiệm vụ tăng cường năng lực nghiên, nhiệm vụ hợp tác quốc tế . Nhìn chung, các nhiệm vụ triển khai đúng theo tiến độ. Đã có nhiều đề tài hoàn thành và dự kiến trong quý I/2008 sẽ nghiệm thu cấp Bộ.
Đối với kế hoạch KHCN năm 2008, Bộ đã sớm giao nhiệm vụ cho các đơn vị từ tháng 12/2007 (Quyết định số 1999/QĐ-BCT ngày 03/12/2007).
Công tác bảo vệ môi trường đã được chú trọng, Bộ đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến về bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức cho các đơn vị; thực hiện xử lý 45/63 cơ sở thuộc Bộ gây ô nhiễm nghiêm trọng; 24/34 đơn vị thực hiện di dời... Ngoài ra, Bộ cũng đã xây dựng và tổ chức triển khai các nhiệm vụ, dự án quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường 2008.
Các hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn chất lượng và sở hữu công nghiệp, trong lĩnh vực năng lượng (nhất là việc thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả) và trong công tác thực hiện nhiệm vụ vệ sinh an toàn thực phẩm tiếp tục được Bộ quan tâm với nhiều hoạt động thiết thực và hiệu quả.
7. Công tác phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Trong năm Bộ đã tổ chức 04 lớp phổ biến, quán triệt Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cho các đơn vị thuộc Bộ đồng thời thông báo kết quả sau 2 năm thực hiện; đã ban hành 15 văn bản liên quan đến công tác chỉ đạo phòng, chống tham nhũng và ban hành kế hoạch kiểm tra việc thực hiện. Có thể đánh giá về nhận thức của cán bộ công nhân viên ở một số đơn vị chưa thật đầy đủ, chưa thấy phòng, chống tham nhũng là lợi ích của chính mình nên việc triển khai công tác này còn mang tính hình thức và hiệu quả chưa cao.
Trong năm, Bộ đã thành lập 16 Đoàn và một số Tổ công tác tiến hành thanh tra, kiểm tra tại 04 Tập đoàn và một số doanh nghiệp, Trường, Viện trong các lĩnh vực đầu tư xây dựng, quản lý sử dụng đất đai, thu chi ngân sách, quản lý tài sản công, cổ phần hóa doanh nghiệp... Qua đó đã phát hiện và xử lý 07 vụ việc với tổng số tiền thu hồi gần 19,7 tỷ đồng, buộc thôi việc 07 cán bộ, cảnh cáo 01 cán bộ, khiển trách 01 cán bộ, .. và huỷ kết quả bán đấu giá cổ phần của Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX; Còn 02 vụ việc đang xử lý với tổng số tiền hơn 2,6 tỷ đồng. Đã rà soát việc mua sắm, quản lý, sử dụng xe ô tô ở các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thuộc ngành công nghiệp nhưng không phát hiện thấy có thất thoát, lãng phí và sử dụng sai chế độ.
Bộ đã ban hành Chương trình hành động về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2007 và giai đoạn 2007 - 2010 tới các đơn vị. Kế hoạch tiết kiệm năm 2007 của các đơn vị thuộc Bộ là 1.365 tỷ đồng. Trên cơ sở báo cáo của 13/19 đơn vị khối sản xuất số tiền tiết kiệm được dự kiến là 757 tỷ đồng. Riêng các đơn vị sự nghiệp tiết kiệm được 30,301 tỷ đồng. Tuy vậy còn một số đơn vị triển khai chậm so với kế hoạch do chưa lãnh đạo đơn vị chưa thực sự quan tâm chỉ đạo.
8. Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
8.1. Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp
Trong năm 2007 Bộ đã có Quyết định phê duyệt Đề án chuyển đổi Viện Hoá học công nghiệp thành Viện Hoá học công nghiệp Việt Nam; Trung tâm nghiên cứu và đào tạo thuộc Viện Nghiên cứu thương mại thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hoạt động theo quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ; Quyết định phê duyệt đề án củng cố và hoàn thiện Viện Nghiên cứu thương mại; thành lập 03 Tổng công ty thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam ; Quyết định chuyển Công ty Thép tấm lá Phú Mỹ thành đơn vị hạch toán phụ thuộc Công ty mẹ - Tổng công ty Thép Việt Nam; Quyết định và triển khai xong việc sáp nhập Công ty XNK Tổng hợp III vào Công ty Thực phẩm và đầu tư công nghệ; Chuyển Công ty Máy và phụ tùng làm thành viên Tổng công ty Điện lực Việt Nam thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam; Quyết định Phê duyệt Quy chế thí điểm Hội động quản trị Tổng công ty Thiết bị điện Việt Nam tuyển chọn và ký hợp đồng với Tổng giám đốc; chỉ đạo và hoàn thành việc tổ chức thi tuyển Tổng giám đốc theo Quyết định số 127/2006/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ; ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Viện IMI theo mô hình Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc; Quyết định bổ sung ngành nghề kinh doanh cho 20 doanh nghiệp; tổ chức, sắp xếp, giải thể các đơn vị trực thuộc công ty nhà nước (10 đơn vị);
8.2. Công tác cổ phần hoá và tham gia thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp
- Về công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Thực hiện Quyết định số 430/QĐ-TTg ngày 17 tháng 4 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch sắp xếp, đổi mới công ty nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp năm 2007 - 2008 Bộ đã chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện cổ phần hoá 24/57 đơn vị. Trong đó các Tập đoàn và Tổng công ty 91: 17 đơn vị ( Dầu khí 02; Dệt may: 10; Điện lực 5) và 05 đơn vị trực thuộc Tổng công ty 90 và trực thuộc Bộ; 01 đơn vị do HĐQT Tập đoàn phê duyệt, 19 đơn vị do Bộ phê duyệt; Công ty Máy và phụ tùng (2 đơn vị); chuyển Tổng công ty Điện tử và Tin học Việt Nam sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Đồng thời Bộ đã chỉ đạo đại hội đồng cổ đông lần đầu của 33 đơn vị; điều chỉnh cơ cấu vốn điều lệ sau khi thực hiện bán cổ phần của 30 đơn vị.
- Kết quả tham gia thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp
Tham gia thị trường chứng khoán để huy động thêm nguồn lực cho sản xuất và đầu tư là một hoạt động được nhiều doanh nghiệp quan tâm. Trong năm 2007 đã có 60 công ty cổ phần thuộc các Tập đoàn, các Tổng công ty, Công ty thuộc Bộ đăng ký kế hoạch niêm yết tại các Trung tâm giao dịch chứng khoán. Trong đó, đã thực hiện niêm yết cổ phần tại năm 2006 là 25 đơn vị, năm 2007 thêm 12 đơn vị chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc ngành Điện, ngành Dầu khí, ngành Than, ngành Dệt May và ngành Nhựa. Ngoài ra có 80 doanh nghiệp thực hiện đăng ký công ty đại chúng theo quy định của Uỷ ban Chứng khoán nhà nước, trong đó Tập đoàn Điện lực có 22 đơn vị; Tập đoàn Than Khoáng sản VN có 12 đơn vị; Tổng công ty Hoá chất có 11 đơn vị; Tổng công ty Thép Việt Nam có 13 đơn vị; Tập đoàn Dệt may Việt Nam 16 đơn vị và 06 đơn vị trực thuộc Bộ.
- Công tác bàn giao đại diện quyền sở hữu vốn nhà nước của các Công ty đã cổ phần hoá sang Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước
Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 47/TT-BTC ngày 15 tháng 5 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc chuyển giao quyền đại điện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp về Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, trong 9 tháng đầu năm 2007 Bộ đã chỉ đạo và hướng dẫn các đơn vị lập Hồ sơ và thực hiện việc bàn giao. Đến nay đã tổ chức thực hiện bàn giao được 05 đơn vị là Tổng công ty cổ phần Điện tử Tin học Việt Nam, Công ty cổ phần bóng đèn Điện Quang, Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Phát triển xây dựng, Công ty cổ phần Đầu tư XNK Da giầy Hà Nội, Công ty cổ phần Da Sài gòn. Bộ cũng đã hoàn thiện hồ sơ để bàn giao tiếp 03 Công ty cổ phần thuộc khối thương mại là Công ty Kho vận Miền Nam, công ty cổ phần XNK Máy Sài Gòn, công ty cổ phần Đồng Tháp Mười và 01 công ty thuộc khối công nghiệp là công ty cổ phần Sành sứ thủy tinh Miền Nam.
9. Công tác điều tiết điện lực
Năm 2007 là năm tập trung xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hình thành và hoạt động của thị trường điện, đến nay đã ban hành được 11 văn bản. Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện; phát triển thị trường điện và điều tiết hoạt động điện lực; xây dựng đề án nhóm nhà máy phát điện cho thị trường phát điện cạnh tranh vào năm 2010; Tổ chức công tác giám sát thị trường điện thí điểm. Bộ cũng đã tổ chức tập huấn kiểm tra, cấp 546 thẻ kiểm tra viên điện lực cho các học viên đủ điều kiện theo thẩm quyền ở các Sở Công nghiệp và các đơn vị điện lực hoạt động theo vùng, miền; đã ký duyệt Quy hoạch phát triển điện lực cho 11 tỉnh, cấp mới, bổ sung và đổi lại 136 giấy phép; giải quyết 07 đơn thư khiếu nại tranh chấp hợp đồng mua bán điện.
10. Công tác quản lý kỹ thuật an toàn công nghiệp
Đây là công tác rất được Bộ quan tâm chỉ đạo, trong năm đã hoàn thành rà soát, bổ sung Quy phạm Thiết chế kỹ thuật an toàn khai thác điện các nhà máy điện và lưới điện; chuyển TCVN 4586:1997 về vật liệu nổ công nghiệp thành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn Vật liệu nổ công nghiệp; xây dựng mức phí thẩm định cấp giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; xây dựng biểu phí kiểm định, lệ phí đăng ký máy, thiết bị, hoá chất độc hại có yêu cầu an toàn đặc thù chuyên ngành công nghiệp; hướng dẫn các Sở Công nghiệp về công tác quản lý vật liệu nổ công nghiệp và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn nạp khí dầu mỏ hóa lỏng vào chai... Bộ cũng đã phối hợp với các Sở Công nghiệp triển khai Tuần lễ quốc gia về an toàn lao động - vệ sinh lao động - phòng chống cháy nổ năm 2007; cấp giấy phép kinh doanh và giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho 45 đơn vị theo quy định của pháp luật; thẩm định và cấp giấy chứng nhận cho 01 trạm nạp đủ điều kiện an toàn để nạp khí hóa lỏng vào chai. Các Sở Công nghiệp đã thẩm định và cấp 199 giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và 29 giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn nạp khí hóa lỏng vào chai; đã kiểm tra định kỳ việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường tại 15 đơn vị thuộc Bộ.
11. Công tác cải cách hành chính
Triển khai kế hoạch cải cách hành chính năm 2007, Bộ đã tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện các thủ tục hành chính đã phân cấp về địa phương tại một số tỉnh, thành phố; rà soát chức năng, nhiệm vụ và sửa đổi, bổ sung, loại bỏ sự chồng chéo về thủ tục hành chính giữa các đơn vị thuộc Bộ và giữa Bộ với các Bộ, ngành; đồng thời tham gia ý kiến xây dựng Luật về Thủ tục hành chính.
Quy định thủ tục cấp phép của Bộ đã được công bố trên mạng thông tin điện tử của Bộ và Chính phủ. Bộ đã thực hiện chế độ “một cửa” trong giao dịch hành chính tại cơ quan Bộ. Việc triển khai thực hiện chế độ "một cửa" đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xin cấp các loại giấy phép; đến nay chưa thấy khiếu kiệu gì về cán bộ công chức của Bộ khi thực thi công vụ.
VI. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT
- Mặc dù có nhiều khó khăn thách thức trong bối cảnh tình hình kinh tế xã hội trong nước và trên thê giới như đã phân tích ở trên, kết quả đạt được của ngành công thương trong năm 2007 là rất đáng khích lệ, có thể được đánh giá tổng quát như sau:
- Sản xuất công nghiệp đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, đáp ứng cơ bản những sản phẩm chủ yếu cho các ngành kinh tế khác và cho tiêu dùng xã hội, hiệu quả sản xuất được nâng lên, tiếp tục giữ vững vai trò động lực cho phát triển kinh tế.
- Hoạt động xuất khẩu tiếp tục phát triển cả về giá trị kim ngạch, về mặt hàng và về thị trường, thể hiện khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế và hội nhập của nền kinh tế. Đã bước đầu hình thành một số sản phẩm, nhóm sản phẩm xuất khẩu mới và cơ cấu các sản phẩm đã qua chế biến tăng dần là một xu hướng tích cực.
- Mức độ tăng kim ngạch nhập khẩu tuy không đạt mục tiêu kế hoạch đề ra nhưng là yêu cầu khách quan để đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng về đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước; tuy nhiên qua đó cũng cho thấy ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước còn chậm phát triển, cần có giải pháp và chính sách phát triển tích cực hơn trong thời gian tới.
- Thị trường trong nước tiếp tục giữ được ổn định về cung cầu các sản phẩm chủ yếu của nền kinh tế. Mặc dù chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, không đạt mục tiêu đề ra nhưng vẫn trong tầm kiểm soát của Chính phủ.
- Thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp, dịch vụ có mức tăng trưởng cao, thể hiện môi trường đầu tư và kinh doanh đã có cải thiện và được các nhà đầu tư chấp nhận; đầu tư trong nước có tăng trưởng về vốn thực hiện, song về tiến độ các dự án phần lớn còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu.
- Hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế đã được tiến hành một cách tích cực, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất và hoạt động thương mại.
- Các hoạt động quản lý nhà nước của Bộ đã được chỉ đạo sâu sát và hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng, góp phần tạo môi trường cho các doanh nghiệp trong toàn ngành phát triển.
PHẦN THỨ HAI
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI NĂM 2008
I. BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ
Tình hình trong nước và quốc tế năm 2008 có những yếu tố cơ bản tác động đến phát triển sản xuất và thương mại nước ta như sau:
1. Tình hình trong nước
1.1. Thuận lợi
- Những đổi mới quan trọng trong tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương, Quốc hội khoá XII và đặc biệt là bộ máy của Chính phủ được tổ chức theo hướng tinh giản hơn, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; chức năng nhiệm vụ của các Bộ cụ thể và rõ ràng hơn, phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương; quy định rõ hơn phạm vi quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội của cơ quan hành chính các cấp.
- Việc trở thành thành viên chính thức của WTO sẽ tạo thêm cơ hội cho nước ta trong việc mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế và huy động được nguồn lực từ bên ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế. Việc mở rộng các hợp tác song phương của Việt Nam sẽ tạo thêm môi trường và thị trường cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, xuất khẩu.
- Các Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được triển khai từ những năm trước tạo môi trường và động lực phát triển cho các ngành, các thành phần kinh tế.
- Việc đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia (FDI) vào Việt Nam, kết cấu hạ tầng trong nước được đầu tư thời gian qua, việc phát triển các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty, các doanh nghiệp trong nước đã và đang tạo thêm năng lực sản xuất mới, phương thức quản lý mới, cùng với những tích lũy kinh nghiệm bước đầu trong hội nhập là những điều kiện thuận lợi khi bước vào kế hoạch năm 2008.
- Lòng tin của người tiêu dùng đối với hàng hóa sản trong nước sản xuất cũng là một nhân tố thuận lợi quan trong cho sự phát triển.
1.2. Khó khăn
Bên cạnh những tín hiệu tích cực từ trong nước đối với phát triển sản xuất và thương mại. Sản xuất công nghiệp và phát triển thương mại tiếp tục gặp phải những khó khăn như:
- Sức cạnh tranh của cả nền kinh tế và của các doanh nghiệp còn thấp.
- Hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế chưa đồng bộ, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất còn thấp. Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế; công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí vẫn còn nhiều khó khăn.
- Nhập siêu còn ở mức cao gây khó khăn cho công tác điều hành nhập khẩu.
- Nhiều doanh nghiệp lớn tiến hành thực hiện IPO khiến công tác điều hành tỷ giá (để khuyến khích xuất khẩu) khó khăn hơn.
- Giá xăng dầu và các vật tư, nguyên liệu đầu vào quan trọng tăng sẽ gây áp lực đến tăng chi phí và mặt bằng giá trong nước, giảm hiệu quả đầu tư và khả năng cạnh tranh.
- Tình hình thiên tai, dịch bệnh có thể có những diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân.
- Năng lực sản xuất một số sản phẩm đã đạt đến ngưỡng , khó tăng cao sản lượng sản xuất và xuất khẩu như khai thác dầu thô, sản xuất phân lân, gạo, cà phê, tiêu...
2. Bối cảnh quốc tế
2.1. Thuận lợi
Kinh tế thế giới năm 2008 dự báo vẫn trên đà phát triển cả về tăng trưởng kinh tế và hoạt động thương mại, đầu tư. Quan hệ hợp tác kinh tế song phương, đa phương giữa các quốc gia, giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế ngày càng sâu rộng. Đây là những nhân tố thuận lợi tạo điều kiện tăng cường hợp tác quốc tế, phát triển kinh tế đối ngoại, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và mở rộng thị trường xuất khẩu.
2.2. Khó khăn
Những yếu tố không thuận lợi đặc biệt nổi lên một số vấn đề sau:
- Tình hình chính trị thế giới và khu vực còn tiềm ẩn nhiều biến động khó lường ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển và khả năng hợp tác của nước ta.
- Giá cả vật tư, nguyên liệu trên thế giới vẫn tiếp tục ở mức cao và còn có khả năng tăng lên trong năm 2008.
- Sự cạnh tranh gay gắt giữa các nền kinh tế và các tập đoàn kinh tế đa quốc gia cũng sẽ tạo ra nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
- Khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu là rất khó khăn.
Ngoài ra những vấn đề mang tính toàn cầu như dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, khan hiếm nguồn nhiên liệu cũng là những thách thức lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI
1. Chỉ tiêu tổng hợp của ngành năm 2008
Trước những yếu tố thuận lợi và khó khăn nêu trên, phát huy đà tăng trưởng kinh tế đạt được trong năm 2007, để góp phần đạt được mức tăng trưởng GDP của cả nước năm 2008 trên 8,5%, với tinh thần chỉ đạo phấn đấu năm 2008 thực hiện cơ bản những mục tiêu đề ra cho kế hoạch 5 năm 2006-2010, ngành Công Thương đề ra những mục tiêu lớn sau đây:
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17,5% so với năm 2007. Giá trị gia tăng toàn ngành công nghiệp tăng 11% so với thực hiện năm 2007 (công nghiệp và xây dựng tăng 10,8%[3]). Trong chỉ đạo, phấn đấu tăng 17,5 - 18% về giá trị sản xuất và 10,9 - 11% về giá trị gia tăng công nghiệp và xây dựng.
Để đạt tốc độ tăng trưởng nêu trên, giá trị sản xuất công nghiệp phải đạt trên 674 nghìn tỷ đồng, bằng 80% so với mục tiêu 2010 (nếu theo mức bình quân là 60%).
- Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đạt 59,03 tỉ USD, tăng 22,0% so với thực hiện năm 2007 (năm 2007 tăng 21,5% so với năm 2006)[4]. Với mức kim ngạch này đã đạt trên 86% mục tiêu đề ra cho năm 2010 là 68-69 tỷ USD.
- Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá dự kiến khoảng 76 tỷ USD, tăng 25% so với thực hiện năm 2007. Như vậy, nhập siêu hàng hoá năm 2008 khoảng 16,97 tỷ USD, bằng 28,75 so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá.
- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên thị trường nội địa đạt khoảng 875 nghìn tỷ đồng, tăng 20,5% so với ước thực hiện năm 2007. Với tổng mức này sẽ đạt trên 85,4% mục tiêu đề ra cho năm 2010 là 1.024 nghìn tỷ đồng.
- Bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu, không để xảy ra sốt hàng, sốt giá, góp phần kiềm chế tăng chỉ số giá tiêu dùng theo mục tiêu Chính phủ đề ra.
2. Các nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể của ngành năm 2008
Năm 2008, ngành công thương đề ra những nhiệm vụ sau để đạt được mục tiêu đề ra:
2.1. Sản xuất công nghiệp
1. Nhiệm vụ sản xuất công nghiệp năm 2008
- Tiếp tục phát triển công nghiệp với tốc độ tăng trưởng cao đi đôi với nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hiệu quả của sản xuất. Tập trung phát triển các ngành, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, các sản phẩm xuất khẩu.
- Đảm bảo cân đối cung cầu của nền kinh tế về những sản phẩm công nghiệp chủ yếu như điện, than, thép xây dựng, xăng dầu, phân bón... trên cơ sở đẩy mạnh sản xuất trong nước; đáp ứng nhu cầu trong nước các sản phẩm công nghiệp tiêu dùng.
- Tích cực triển khai đề án phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn trong giai đoạn 2007 - 2010.
- Khuyến khích phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm tăng dần tỷ lệ nội địa hoá các sản phẩm điện tử, ô tô, xe máy, tầu thuỷ, nguyên phụ liệu ngành dệt may, giầy dép, nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản (sữa nguyên liệu, bột giấy, nguyên liệu thuốc lá).
- Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu tạo tốc độ tăng trưởng cao ngang bằng tốc độ tăng nhập khẩu; tăng tỷ trọng xuất khẩu hàng hoá đã qua gia công chế biến, hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô.
- Tham gia có hiệu quả vào việc ổn định thị trường trong nước những mặt hàng trọng yếu như lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng; tăng cường kiểm soát thị trường giá cả không để xảy ra những cơn sốt thiếu hàng, tăng giá.
2. Cân đối cung - cầu một số sản phẩm công nghiệp thiết yếu
- Ngành Điện: Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế trên 8,5% (và phấn đấu 9%), nhu cầu điện của nền kinh tế quốc dân năm 2008 dự kiến khoảng 77,2 tỷ kWh điện phát ra. Với mức sản lượng này mới đạt 69% chỉ tiêu của năm 2010 là 112 tỷ kWh. Do vậy cần bảo đảm đưa khoảng 2.200 MW công suất các nguồn điện sau đây vào vận hành đúng tiến độ đề ra: Tổ máy số 2 và 3 thuỷ điện Tuyên Quang (tháng 1 và tháng 6); Tổ máy số 2 thuỷ điện Pleikrông (tháng 3); Tổ máy số 1 và 2 thuỷ điện A Vương (tháng 3 và 6); Thuỷ điện Bản Vẽ (tháng 6); TBKHH Nhơn Trạch 1 (tháng 6); Tổ máy số 1 và 2 của TBKHH Ô Môn III (phần TBK đơn) (tháng 7 và 9); TBKHH Cà Mau 2 (tháng 3); Tổ máy số 1 và 2 thuỷ điện Buôn Kuốp (tháng 6 và 10); Nhà máy nhiệt điện than Sơn Động (tháng 6 và tháng 12). Tiếp tục mua điện của Trung Quốc, đưa tổng lượng điện mua ngoài EVN lên trên 3,4 tỷ kWh. Đồng thời cần phấn đấu giảm tổn thất điện năng xuống dưới 11%.
- Ngành Thép : Năng lực sản xuất thép xây dựng trong nước đến cuối 2007 khoảng trên 6 triệu tấn, trong khi nhu cầu năm 2008 khoảng trên 4 triệu tấn và trong nước đã sản xuất được một số chủng loại thép tấm cán nguội, thép ống, tôn mạ, tấm lợp... Năng lực sản xuất phôi cũng đạt gần 2,5 triệu tấn, đáp ứng gần 50% nhu cầu. Năm 2008 dự kiến sản xuất khoảng 4,97 triệu tấn thép các loại, tăng 16,9% so với thực hiện năm 2007. Với mức sản lượng này đạt 76% mục tiêu của năm 2010 là 6,5 triệu tấn. Tuy nhiên chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng. Đối với nhu cầu thép xây dựng trong nước đã đáp ứng thoả mãn. Sản xuất phôi khoảng 2 triệu tấn, phải thu mua trong nước khoảng 400-500 nghìn tấn và nhập khẩu khoảng 1,5 triệu tấn thép phế.
- Ngành Phân bón: Nhu cầu phân bón cả nước năm 2008 gần 2 triệu tấn phân đạm urê; hơn 2 triệu tấn phân NPK; 1,5 triệu tấn phân lân và một số chủng loại phân khác (SA, DAP...).
Về phân đạm urê, dự kiến sản xuất khoảng 915 nghìn tấn, còn trên 1 triệu tấn phải nhập khẩu. Mức sản lượng này còn hạn chế bởi năng lực sản xuất trong nước chưa đầu tư đáp ứng, dự án đạm Cà Mau, dự án đạm than Ninh Bình đang triển khai. Sau khi 2 dự án này đi vào sản xuất sẽ đáp ứng đủ nhu cầu và đạt mục tiêu 2010 vào năm 2010 là 2,2 triệu tấn.Việc nhập khẩu cần căn cứ vào tình hình sản xuất và tiến độ mùa vụ để vừa phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp vừa tránh tồn kho lớn gây đọng vốn.
Về phân chứa lân (supe lân, lân nung chảy) và phân hỗn hợp NPK trong nước có khả năng sản xuất đáp ứng cơ bản nhu cầu (khoảng 1,5 triệu tấn lân supe và nung chảy và 1,9 triệu tấn NPK).
Về phân DAP, dự kiến từ giữa năm 2008 dự án DAP Hải Phòng sẽ được đưa vào vận hành với sản lượng ước đạt 100 nghìn tấn nên sẽ giảm được một phần nhập khẩu.
- Sản xuất vải: Theo dự kiến, năm 2008 nhu cầu vải cho sản xuất hàng may mặc khoảng 2,5 tỷ m2. Đề nghị Tập đoàn Dệt may Việt Nam sớm hoàn thành và đưa vào sản xuất các dự án theo đúng kế hoạch của chương trình 1 tỷ m2 vải để đáp ứng khoảng 30% nhu cầu.
3. Một số mục tiêu cụ thể về sản xuất công nghiệp toàn ngành
- Phấn đấu đạt giá trị sản xuất công nghiệp tăng từ 17,5 - 18%. Trong đó: Khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 9,7 -10%; Khu vực ngoài nhà nước tăng 20,7- 21%; Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,2-20%.
- Chỉ tiêu đối với các sản phẩm công nghiệp chủ yếu:
Sản phẩm công nghiệp
Sản lượng năm 2008
Tăng/giảm 2008/2007 (%)
+ Điện phát ra
77,2 tỷ kWh
tăng 15,0%
+ Điện thương phẩm
68,2 tỷ kWh
tăng 17,2%
+ Than sạch
40,0 triệu tấn
bằng 97,1%%
+ Dầu thô khai thác
16,0 triệu tấn,
tăng 3,1%
+ Khí đốt (khí thiên nhiên)
7,5 tỷ m3
tăng 10,3%
+ Thép cán
4,97 triệu tấn
tăng 16,9%
+ Động cơ điện
174,7 nghìn cái
tăng 16,3%
+ Động cơ diesel
68,9 nghìn cái
tăng 12,3%
+ Máy biến thế
29,7 nghìn cái
tăng 11,0%
+ Máy thu hình
2,39 triệu cái
tăng 10,8%
+ Phân đạm urê
915 nghìn tấn
bằng 95,9%
+ Phân lân các loại
1,53 triệu tấn
tăng 7,4%
+ Phân NPK các loại
1,897 triệu tấn
tăng 1,8%
+ Săm lốp ô tô máy kéo
1,929 triệu bộ
tăng 20,6%
+ Chất tẩy rửa
652 nghìn tấn
tăng 12,4%
+ Vải lụa các loại
683 triệu m2
tăng 8,4%
+ Quần áo dệt kim
190,2 triệu sản phẩm
tăng 10,5%
+ Quần áo may sẵn
1.511 triệu sản phẩm
tăng 14,1%
+ Giầy dép các loại
325 triệu đôi
tăng 14,0%
+ Giấy bìa các loại
1.366,5 nghìn tấn
tăng 14,9%
+ Thuốc lá bao các loại
4,28 tỷ bao
bằng 99,1%
+ Bia các loại
2,15 tỷ lít
tăng 16,5%
+ Sữa đặc có đường
478 triệu hộp
tăng 18,3%
+ Dầu thực vật
620 nghìn tấn
tăng 16,1%
+ Xi măng
40 triệu tấn
tăng 9,8%
+ Xe máy lắp ráp
2,44 triệu cái
tăng 13,2%
+ Ô tô lắp ráp
90 nghìn cái
tăng 23,8%
2.2. Xuất khẩu hàng hoá
Năm 2008 - năm thứ hai Việt Nam là thành viên của WTO, các doanh nghiệp sẽ khai thác tốt hơn cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa vào nhiều thị trường hơn với mức thuế thấp hơn để tăng kim ngạch xuất khẩu.
Nhiệm vụ xuất khẩu năm 2008 đề ra là:
- Tiếp tục tập trung xuất khẩu những sản phẩm chủ lực bao gồm các mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo vì tăng trưởng xuất khẩu các mặt hàng này sẽ tạo kim ngạch lớn, giải quyết việc làm cho người lao động và các vấn đề xã hội khác trong nước.
- Đẩy mạnh xuất khẩu những sản phẩm công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, có lợi thế cạnh tranh để nâng cao hiệu quả xuất khẩu, nhất là các sản phẩm thuộc nhóm cơ khí, thiết bị điện, điện tử...
- Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, theo hướng phát triển các mặt hàng có kim ngạch tuy chưa lớn nhưng đang có tốc độ tăng trưởng cao, không bị hạn chế hoặc chưa bị hạn chế về thị trường, hạn ngạch và không thuộc diện bị áp thuế để hình thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới như các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ, túi xách, va li, sản phẩm cao su, hàng thực phẩm chế biến, hoá mỹ phẩm, sản phẩm cơ khí, dịch vụ phần mềm…
- Từng bước hạn chế, tiến đến xoá bỏ xuất khẩu nguyên liệu, khoáng sản chưa qua chế biến hoặc chế biến thô trong đó có xuất khẩu than, dầu thô...để phục vụ sản xuất trong nước và tiết kiệm tài nguyên không tái sinh.
- Thực hiện đồng bộ các biện pháp nâng cao chất lượng và giá trị hàng hóa xuất khẩu đối với các mặt hàng truyền thống, các mặt hàng thuộc nhóm nông lâm thủy sản do bị hạn chế về diện tích, năng suất và phụ thuộc nhiều vào thời tiết nên không có điều kiện tăng nhiều về khối lượng.
- Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại gắn với đầu tư và ngược lại để tìm kiếm và mở rộng thị trường, tập trung khai thác theo chiều sâu, chiều rộng đối với các thị trường truyền thống, thị trường trọng điểm đi đôi với việc phát triển các thị trường có chung đường biên giới với Việt Nam thông qua việc xem xét điều chỉnh những quy định không phù hợp hạn chế xuất khẩu thời gian qua. Các thị trường chủ lực của ta trong năm 2008 sẽ vẫn là thị trường châu Á (Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông), châu Âu (chủ yếu là EU), Bắc Mỹ (Hoa kỳ, Canada) và châu Đại dương (Australia). Ngoài ra tiếp tục khai thác, thâm nhập một số thị trường truyền thống hoặc thị trường mới như Nga, Trung Đông, Mỹ La tinh, châu Phi.
Các chỉ tiêu xuất khẩu năm 2008
Dự kiến năm 2008 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sẽ đạt 59,03 tỷ USD, tăng 22,0% so với ước thực hiện năm 2007, trong đó các doanh nghiệp 100% vốn trong nước sẽ tăng cao hơn so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (24,2% so với 20,3%).
- Các sản phẩm công nghiệp tiếp tục là động lực cho tăng trưởng xuất khẩu với tỷ trọng chiếm trên 76,0%. Những nhóm hàng chủ lực là: Dệt may ước đạt 9,5 tỷ USD, tăng 22,1%; dầu thô ước đạt 9,0 tỷ USD, giảm lượng xuất khẩu nhưng trị giá vẫn tăng 6,2% do giá dầu thô có xu hướng tăng; giầy dép các loại ước đạt 4,5 tỷ USD, tăng 13,6%; hàng điện tử và linh kiện máy tính ước đạt 3,5 tỷ USD, tăng 60,6%; sản phẩm gỗ ước đạt 3,0 tỷ USD, tăng 26,8%. Năm 2008 dự kiến sẽ xuất hiện thêm 3 mặt hàng có kim ngạch đạt và trên mức 1 tỷ USD là: hàng thủ công mỹ nghệ ước đạt 1,0 tỷ USD, tăng 33,4%; sản phẩm nhựa ước đạt 1,0 tỷ USD, tăng 37,9%; dây điện và cáp điện ước đạt 1,3 tỷ USD, tăng 46,9% (Chi tiết xem Phụ lục 1e).
- Do hạn chế về diện tích, thời tiết, nguồn nước, năng suất và cả phần nào thị trường tiêu thụ, nên xuất khẩu các mặt hàng thuộc nhóm hàng nông, lâm thuỷ sản không có khả năng tăng trưởng cao trong năm 2008, thậm chí một số sẽ đến ngưỡng nếu không có những biện pháp tích cực, trong đó, các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như thuỷ sản đạt 4,25 tỷ USD, tăng 12,1%; gạo đạt 1,5 tỷ USD, tăng 3,1%. Dự kiến xuất khẩu một số mặt hàng sẽ đạt mức tăng trưởng thấp hoặc giảm trong năm 2008 như chè; nhân điều; cao su và cà phê.
- Thị trường Châu Á tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 24,5 tỷ USD, chiếm khoảng 41,8%, tăng 16,7% so với ước thực hiện năm 2007, trong đó vào thị trường Trung Quốc tăng 25,0%, Hàn Quốc tăng 25,0%; duy trì tốc độ tăng trưởng vào các thị trường còn lại như ASEAN, Nhật Bản, Đài Loan… Thị trường Châu Mỹ đứng thứ 2 với kim ngạch ước đạt 14,6 tỷ USD, tăng 25,2%, trong đó vào Hoa Kỳ tăng 28,0%, chiếm tỷ trọng 22,4%. Xuất khẩu vào thị trường Châu Âu ước đạt 11,7 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 20,0%, tăng 22,9%, trong đó vào thị trường EU chiếm 17,7%, tăng 22,4%. Thị trường Châu Đại Dương, Châu Phi Tây Nam Á mặc dù có kim ngạch còn nhỏ nhưng dự kiến sẽ tăng trưởng cao trong năm 2008 với mức tương ứng là 25,0% và 53,8%.
2.3. Nhập khẩu hàng hoá
Nhiệm vụ nhập khẩu năm 2008
- Ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ đầu tư trong nước, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu.
- Kiểm soát nhập khẩu một cách có hiệu quả, nhất là với các mặt hàng có khối lượng và kim ngạch nhập khẩu lớn mà trong nước có khả năng sản xuất, đáp ứng nhu cầu. Có chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất hàng thay thế nhập khẩu, tăng cường sử dụng máy móc, thiết bị, vật tư trong nước cho các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách.
- Sử dụng hiệu quả các biện pháp đồng bộ như rào cản kỹ thuật, chính sách tiền tệ, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và chống lãng phí trong đầu tư để góp phần hạn chế nhập siêu.
Các chỉ tiêu nhập khẩu năm 2008:
Để bảo đảm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế cao ở mức 8,5% đến 9% và cao hơn, dự kiến nhập khẩu trong năm 2008 sẽ tiếp tục ở mức cao. Trong điều kiện thị trường thế giới đã hình thành mặt bằng giá mới cao hơn năm 2007, kim ngạch nhập khẩu năm 2008 dự kiến ở mức tối thiểu là 76 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2007.
Các mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch lớn như: xăng dầu 13,5 triệu tấn, tăng tăng 7,5%, sắt thép, kim loại và phôi thép 9,0 triệu tấn, tăng 25%, máy móc thiết bị 13,5 tỷ USD, tăng 30,1%, hoá chất, chất dẻo nguyên liệu 4,6 tỷ USD, tăng 19,5%, điện tử máy tính linh kiện 3,1 tỷ USD, tăng 5,3%, vải sợi, bông và nguyên phụ liệu dệt may, da 8,3 tỷ USD, tăng 15,6%, gỗ và nguyên liệu 1,3 tỷ USD, tăng 30,1%, thức ăn gia súc và nguyên liệu 1,35 tỷ USD, tăng 14,5%, tân dược và nguyên liệu 920 triệu USD, tăng 8,4%.
Mức nhập siêu năm 2008 dự kiến vẫn ở mức cao, khoảng 16,9 tỷ USD, tăng 36,9% so với ước thực hiện năm 2007, chiếm 28,7% kim ngạch xuất khẩu.
2.4. Thương mại trên thị trường trong nước
Năm 2008, để phát triển thị trường thương mại trong nước cần tiếp tục xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức hướng dẫn việc thực thi các cam kết với WTO về mở cửa dịch vụ phân phối hàng hóa; đề nghị sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng thương mại; nâng cao chất lượng công tác kiểm soát và điều tiết thị trường để góp phần kiềm chế tốc độ tăng giá hàng tiêu dùng. Những nhiệm vụ chủ yếu trong hoạt động thương mại trên thị trường trong nước là:
- Bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hoá cho nền kinh tế, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hoá, sốt giá, sốt hàng hay đầu cơ tích trữ hàng hoá để lợi dụng tăng giá.
- Thực hiện cơ chế điều tiết vĩ mô trên cơ sở vận dụng đồng bộ các biện pháp để kiểm soát và kiềm chế tốc độ tăng giá như mục tiêu đặt ra nhằm góp phần bảo đảm chất lượng tăng trưởng kinh tế.
- Phát triển mạnh thị trường trong nước một cách bền vững theo hướng hiện đại dựa trên các hệ thống và các kênh phân phối hợp lý với sự tham gia của các loại hình tổ chức và các thành phần kinh tế, vận hành trong môi trường cạnh tranh có sự quản lý và điều tiết vĩ mô của nhà nước.
- Nâng cao vai trò của thương mại nội địa trong việc định hướng và thúc đẩy sản xuất phát triển, phục vụ nhu cầu tiêu dùng và nâng cao đời sống của nhân dân, tạo cơ sở để phát triển xuất khẩu.
- Bổ sung, hoàn thiện sớm các quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng thương mại đồng thời xây dựng phương án huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng để đảm bảo đáp ứng yêu cầu phát triển thương mại trong thời gian tới, đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế.
- Nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thị trường và kiểm tra giám sát chất lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường trong nước nhằm đảm bảo sự công bằng và cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế.
2.5. Đầu tư xây dựng
Tổng nhu cầu vốn đầu tư XDCB năm 2008 của các Tập đoàn, Tổng công ty 90, 91 và doanh nghiệp thuộc Bộ khoảng 155,77 nghìn tỷ đồng, tăng 59,9% so với ước thực hiện năm 2007; trong đó: khối sản xuất kinh doanh 155,37 nghìn tỷ đồng, tăng 50,0; khối hành chính sự nghiệp 403,2 tỷ đồng, tăng 13,9%. (Chi tiết xem Phụ lục 2a).
2.6. Hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế
- Triển khai tổng kết, đánh giá những mặt được và chưa được của ngành công thương sau một năm gia nhập WTO; đồng thời tổ chức thực hiện chương trình hành động của ngành thực hiện Nghị quyết số 16 của Chính phủ.
- Các doanh nghiệp trong toàn ngành tổ chức nghiên cứu, xây dựng các giải pháp nhằm tận dụng tốt cơ hội do việc gia nhập WTO mang lại, khắc phục những yếu kém trong quản lý, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và đầu tư có hiệu quả.
- Tiếp tục các hoạt động đàm phán, ký kết các hợp đồng, hợp tác giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với các tổ chức quốc tế để tạo thêm thế và lực cho phát triển trước mắt và lâu dài.
III. CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ THỰC HIỆN MỤC TIÊU
Trong năm 2008, toàn ngành cần thực hiện những giải pháp sau để hoàn thành mục tiêu đề ra.
1. Đối với sản xuất công nghiệp
- Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản phẩm công nghiệp. Phát triển công nghiệp năng lượng và áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệ vật liệu và công nghệ tiết kiệm nguyên vật liệu, công nghiệp cơ khí chế tạo và cơ - điện tử. Chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ cung cấp nguyên phụ liệu, chi tiết cho các ngành công nghiệp khác như dệt may, da giầy, ô tô, xe máy, đóng tầu... nhằm tăng tỷ lệ nội địa hoá trong các sản phẩm cơ khí, các sản phẩm xuất khẩu; phát triển công nghiệp phục vụ xuất khẩu, phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, phát triển các ngành giao thông, xây dựng, dịch vụ.
- Tập trung phát triển mạnh các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh như chế biến nông, lâm, thuỷ sản, may mặc, giầy dép, cơ khí đóng tầu, chế tạo thiết bị, gia công cơ khí, lắp ráp cơ - điện tử, phương tiện vận tải, đồ gỗ.
- Chú trọng xây dựng hệ thống thông tin về thị trường trong nước và xuất khẩu, thông tin về khoa học công nghệ, về cơ chế chính sách… để phục vụ doanh nghiệp một cách kịp thời, đồng thời tạo điều kiện quảng bá thương hiệu ra nước ngoài.
- Đẩy mạnh tiến độ đầu tư các dự án trọng điểm, đa dạng hình thức sử dụng vốn cho đầu tư mới và đầu tư chiều sâu. Chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, ứng dụng khoa học tiên tiến, cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp.
- Khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường liên kết hợp tác trong ngành, giữa các ngành và giữa các thành phần kinh tế để khai thác có hiệu quả năng lực sản xuất xã hội, tránh tình trạng khép kín, lãng phí trong đầu tư.
2. Đối với thương mại
2.1. Xuất khẩu
- Tổ chức rà soát, điều chỉnh bổ sung đề án xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 cho phù hợp yêu cầu và tình hình mới. Đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu đã đề ra.
- Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, giày dép, thủy sản, và những mặt hàng có dung lượng thị trường khá, có tốc độ tăng trưởng nhanh như đồ gỗ, dây và cáp điện... nhằm hình thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới, bù vào việc giảm sút trong xuất khẩu dầu thô, than đá hoặc những sản phẩm đã tới ngưỡng như các mặt hàng nông lâm sản. Đồng thời cần chú trọng tăng nhanh xuất khẩu dịch vụ như là một hướng còn nhiều tiềm năng để tăng nhanh tổng kim ngạch xuất khẩu, qua đó góp phần giảm nhập siêu.
- Thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu một cách toàn diện trên tất cả các mặt: năng lực sản xuất, cơ cấu mặt hàng, giá cả, chất lượng, phương thức phân phối...Từng bước đưa doanh nghiệp tham gia vào chuỗi sản xuất của các Tập đoàn đa quốc gia.
- Tập trung phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ để tăng cường khả năng cung ứng nguyên - vật liệu, bán thành phẩm, phụ liệu đầu vào trong nước phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và thúc đẩy mối quan hệ hỗ trợ liên ngành giữa các ngành công nghiệp, trước hết tập trung cho 2 nhóm hàng dệt may và giày dép. Triển khai xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên - phụ liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu. Kiến nghị Chính phủ giao Bộ Công Thương cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài để phân phối một số mặt hàng nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu ngay trong năm 2008. Phối hợp các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố có cơ chế ưu tiên đ?c biệt để sớm đưa các dự án đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ sớm đi vào hoạt động.
- Nghiên cứu cơ chế và phương thức nắm bắt thông tin để kịp thời xử lý, tạo điều kiện động viên, thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Phối hợp các Bộ, ngành xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và hệ thống kiểm dịch phù hợp tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, đồng thời thúc đẩy, vận động tiêu chuẩn hoá và công nhận lẫn nhau giữa Việt Nam và các đối tác thương mại nước ngoài, nhằm tránh thiệt hại cho hàng xuất khẩu của Việt Nam từ các hàng rào bảo hộ của các nước. đặc biệt đối với những bạn hàng lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản...
- Phối hợp với các Bộ xây dựng các chính sách khuyến khích xuất khẩu phù hợp với các định chế của WTO như bảo hiểm xuất khẩu, sử dụng 10% giá trị hàng nông sản trợ cấp cho sản xuất hàng nông sản, trong đó chú ý tới các hàng nông sản xuất khẩu; Mở rộng danh mục mặt hàng hưởng chính sách tín dụng xuất khẩu của nhà nước như gạo, dệt may, giày dép, sản phẩm nhựa, xe đạp và phụ tùng, cao su, ô tô tải, ôtô khách, thiết bị và máy văn phòng, thép và các sản phẩm từ gang thép, vật liệu xây dựng.
Nghiên cứu để giảm thuế một số mặt hàng là nguyên liệu đầu vào một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu như da thuộc từ 3% xuống 0%, linh kiện điện tử từ 3-5% xuống 0%, PVC từ 5% xuống 0%... Giảm thuế VAT đối với mặt hàng hạt điều thô và nhân điều sơ chế từ 5% xuống 0%.
- Tăng cường và đổi mới phương thức xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu để đạt hiệu quả cao; phấn đấu tăng trưởng xuất khẩu cao ngang bằng mức tăng nhập khẩu, từng bước giảm tỷ lệ nhập siêu.
- Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đàm phán song phương để tạo nên thị trường xuất khẩu mới; tránh tập trung quá mức một mặt hàng vào một thị trường, nhất là những thị trường có những tiềm ẩn bất ổn.
- Phối hợp các Bộ, ngành thúc đẩy phát triển các hoạt động logistic sao cho đồng bộ, nhanh, chất lượng cao, chi phí thấp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu cũng như nhập khẩu.
- Tăng cường vai trò của các Hiệp hội ngành hàng để tạo sự thống nhất trong công tác chỉ đạo điều hành và tổ chức mạng lưới thông tin dự báo tình hình thị trường, giá cả, cung cầu hàng hoá ở thị trường trong nước và nước ngoài, nhằm cung cấp những thông tin có lợi đi đôi với việc kiểm soát những thông tin sai lệch gây nhiễu thị trường. Gắn công tác xúc tiến thương mại với yêu cầu tăng trưởng xuất khẩu, đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu đi đối với việc đề cao chữ "tín" trong thương mại quốc tế. Tăng cường mối liên kết giữa xúc thương mại với xúc tiến đầu tư. Nâng cao năng lực tổ chức thị trường ngoài nước của các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính nhất là trong lĩnh vực hải quan, hoàn thuế VAT, cấp đất, giải quyết thủ tục đầu tư cho sản xuất hành xuất khẩu... tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp trong các thủ tục liên quan đến xuất khẩu.
2.2. Nhập khẩu và hạn chế nhập siêu
- Rà soát những mặt hàng nhập khẩu tăng mạnh do việc cắt giảm thuế quan theo cam kết WTO và AFTA mà trong nước có khả năng sản xuất để có biện pháp hạn chế nhập khẩu và khuyến khích sản xuất trong nước nhằm giảm nhập siêu. Có giải pháp giảm nhập siêu từ những thị trường có tỷ trọng nhập khẩu lớn như Châu Á, trong đó có Trung Quốc bằng các đàm phán để tăng xuất khẩu vào các thị trường này.
- Nghiên cứu cơ chế quản lý nhập khẩu hiệu quả nhằm từng bước giảm kim ngạch nhập khẩu nhưng vẫn đảm bảo phát triển sản xuất trong nước. Cơ cấu nhập khẩu chủ yếu năm 2008 là: Nhóm máy móc thiết bị phụ tùng khoảng 26,3%; nhóm nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất khoảng 66,2%, nhóm hàng tiêu dùng khoảng 7,5%.
- Nghiên cứu và triển khai đồng bộ các chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, các loại nguyên liệu vật tư sản xuất trong nước để giảm nhập khẩu các loại hàng hoá này. Đối với những mặt có tốc độ nhập khẩu cao hơn tốc độ xuất khẩu, chủ yếu do tăng giá nhập khẩu, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, Hiệp hội, doanh nghiệp để xác định tiến độ nhập khẩu thích hợp, đồng thời có biện pháp quản lý và hướng dẫn tiêu dùng để giảm nhập siêu.
- Xây dựng hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp định chế quốc tế đối với hàng nhập khẩu để tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước, góp phần hạn chế nhập siêu. Tiếp tục triển khai một số công cụ quản lý phù hợp quy định của WTO như hạn ngạch thuế quan, thuế tuyệt đối.
2.3. Thương mại trên thị trường nội địa
-Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh và các văn bản quy phạm pháp luật khác phù hợp với thông lệ quốc tế và WTO. Ban hành các quy chuẩn và hướng dẫn phát triển các mô hình tổ chức hoạt động thương mại (bán buôn, bán lẻ).
- Quan tâm hơn công tác phát triển thị trường trong nước nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa. Hoàn thiện cơ chế quản lý ngành hàng và tổ chức hệ thống phân phối theo chức năng của từng Bộ, ngành; lập lại trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh doanh từ Trung ương đến địa phương, nhất là việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết tại các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại. Chú trọng công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường; kiểm soát chi phí sản xuất, chi phí lưu thông những mặt hàng thiết yếu nhằm hạn chế đến mức tối đa sự tăng giá của các mặt hàng. Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển kết cấu hạ tầng thương mại trên cơ sở đề xuất và vận dụng các chính sách hỗ trợ, ưu đãi và khuyến khích của nhà nước. Chỉ đạo hướng dẫn và đôn đốc các tỉnh và Thành phố trực thuộc trung ương xây dựng đồng bộ các quy hoạch phát triển thương mại và quy hoạch kết cấu hạ tầng trong phạm vi địa phương.
- Nghiên cứu các giải pháp tác động đến việc phát triển các nhà phân phối lớn đi đôi với việc tạo điều kiện để đông đảo người buôn bán nhỏ ổn định và tăng trưởng trong kinh doanh. Kết hợp hiện đại hoá từng bước mạng lưới thương mại tại các đô thị lớn với củng cố và mở rộng thị trường nông thôn, miền núi.
3. Đối với hoạt động đầu tư - xây dựng
- Thu hút mạnh mẽ mọi nguồn lực trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp; kiến nghị Nhà nước có chính sách thu hút nước ngoài đầu tư các sản phẩm quan trọng mà các thành phần kinh tế khác không có khả năng đầu tư hoặc không muốn đầu tư, như những dự án khai thác quặng sắt và luyện thép, bôxit nhôm - alumin, lọc hoá dầu, cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, hoá dược...
- Tạo nền tảng cơ sở kết cấu hạ tầng về năng lượng thông qua việc đầu tư và đẩy mạnh tốc độ xây dựng các nhà máy điện, cải thiện tình trạng thiếu điện trong sản xuất và sinh hoạt, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế.
- Chủ động tham gia thị trường chứng khoán để huy động thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Chú trọng đầu tư đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị phù hợp khả năng tài chính và trình độ quản lý của doanh nghiệp, trước hết ở các khâu sản xuất then chốt quyết định chất lượng của sản phẩm.
- Các doanh nghiệp cần chủ động thực hiện các giải pháp kêu gọi đầu tư đối với các dự án của mình. Tiếp tục mở rộng phân cấp, xác định rõ quyền và trách nhiệm của các chủ thể tham gia thực hiện dự án để bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả.
- Đẩy mạnh tiến độ xây dựng các công trình nhằm sớm huy động năng lực sản xuất mới góp phần vào tăng trưởng chung của toàn ngành.
4. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học công nghệ
- Các doanh nghiệp có chương trình, kế hoạch, nguồn kinh phí để tổ chức tự đào tạo hoặc cử người đi đào tạo tại các cơ sở đào tạo trong nước cũng như ở nước ngoài để đáp ứng nhu cầu lao động, nâng cao tay nghề, trình độ khoa học công nghệ, trình độ quản lý, chú trọng đào tạo các kỹ thuật viên, các nhà thiết kế, các nhà quản lý có trình độ cao phù hợp với yêu cầu phát triển của doanh nghiệp và đáp ứng yêu cầu cạnh tranh.
- Các doanh nghiệp có cơ chế thu hút và sử dụng những nhà khoa học, các chuyên gia, các kỹ thuật viên giỏi, các thợ bậc cao, các đề tài nghiên cứu ứng dụng có hiệu quả từ các Viện nghiên cứu trong và ngoài nước để đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ và quản lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, hình thành được đội ngũ doanh nhân giỏi của đất nước.
- Các cơ sở đào tạo thuộc Bộ cần chủ động bám sát yêu cầu của các doanh nghiệp, của các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài có những dự án đầu tư lớn, yêu cầu lực lượng lao động nhiều, trình độ cao để tổ chức đào tạo theo địa chỉ.
- Các cơ sở nghiên cứu chủ động gắn hoạt động nghiên cứu với thực tế sản xuất, chuyển hướng nghiên cứu giải quyết những vấn đề do sản xuất đặt ra, chấm dứt tình trạng nghiên cứu theo khả năng mình có để vừa nâng cao hiệu quả của công tác nghiên cứu, vừa góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, thiết bị, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường, đảm bảo phát triển có hiệu quả và bền vững.
5. Đối với hoạt động quản lý nhà nước
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch và các văn bản quy phạm pháp luật. Rà soát và bổ sung, điều chỉnh các chiến lược, quy hoạch đã được phê duyệt. Tăng cường công tác theo dõi, quản lý, kiểm tra giám sát việc thực hiện các chiến lược, quy hoạch được phê duyệt.
- Phối hợp với các Bộ, ngành, các Hiệp hội ngành hàng, các địa phương trong việc quản lý, điều hành sản xuất, xuất nhập khẩu, lưu thông hàng hóa, đầu tư xây dựng để bảo đảm thực thi pháp luật và gia tăng hiệu quả tổng hợp.
- Kiện toàn bộ máy cơ quan thương vụ ở nước ngoài. Hoàn thiện mô hình hoạt động công thương ở các địa phương.
- Tăng cường hoạt động thương mại điện tử. Nghiên cứu xây dựng mô hình thương mại điện tử phù hợp với trình độ của các doanh nghiệp và khuyến khích các doanh nghiệp tham gia.
- Xây dựng cơ chế tham vấn, phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước thuộc Bộ với các Hiệp hội ngành hàng.
- Nghiên cứu đề xuất cơ chế tín dụng tiêu dùng để kích cầu tiêu dùng hàng hóa trong nước sản xuất, nhất là đối với tầng lớp dân cư có thu nhập thấp.
- Đẩy mạnh công tác sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ.
- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, chú trọng cải cách thủ tục hành chính, thực hiện tốt cơ chế một dấu - một cửa trong công tác cấp phép và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của cơ quan Bộ. Triển khai xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ngành công nghiệp và thương mại với chất lượng ngày càng cao.
- Tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và cán bộ, công nhân viên chức trong công tác phòng, chống tham những và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
- Cải tiến và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp trong toàn ngành công thương theo đúng pháp luật, phát triển đúng chiến lược và quy hoạch./.
Nguồn: Bộ Công Thương

 

 

[1] Hà Nội (chiếm 25,3%, tăng 28,5%), Hải Phòng (chiếm 35,7%, tăng 18,4%), Vĩnh Phúc (chiếm 12,7%, tăng 32,1%), Hà Tây (chiếm 58%, tăng 29,2%), Bắc Ninh (chiếm 58,4%, tăng 18,8%), Hải Dương (chiếm 20,35%, tăng 24,7%), Hà Nam (chiếm 55,1%, tăng 23,2%), Nam Định (chiếm 73,4%, tăng 26%), Thái Bình (chiếm 85%, tăng 30%), Ninh Bình (chiếm 58%, tăng 37,3%), Lào Cai (chiếm 30,6%, tăng 20,8%), Bắc Kạn (chiếm 57%, tăng 27,3%), Lạng Sơn (chiếm 36%, tăng 22,9%), Tuyên Quang (chiếm 40,2%, tăng 31,2%), Thái Nguyên (chiếm 36%, tăng 39,7%), Phú Thọ (chiếm 28,3%, tăng 23,9%), Bắc Giang (chiếm 59,3%, tăng 20,3%), Lai Châu (chiếm 63%, tăng 57,3%), Hoà Bình (chiếm 63,7%, tăng 58,4%), Thanh Hoá (chiếm 41,3%, tăng 21,7%), Nghệ An (chiếm 28,4%, tăng 18,6%)...
[2] 1 đồng kinh phí KCQG thu hút được 101,7 đồng vốn đầu tư từ xã hội
[3] Theo dự kiến Kế hoạch nhà nước 2008, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17,3 - 18%; giá trị gia tăng công nghiệp và xây dựng 10,6 - 11%.
[4] Năm 2007 ước thực hiện 48,4 tỷ USD, Kế hoạch nhà nước 2008 dự kiến 57,6 - 58,6 tỷ USD, tăng 20 - 22%.
 
In bài
Các tin khác
Báo cáo tổng kết năm 2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008 của Tổng Công ty Thép Việt Nam
Báo cáo triển khai kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2008
Kế hoạch phát triển sự nghiệp Y tế năm 2008
Báo cáo tổng kết công tác thông tin và truyền thông năm 2007 và Chương trình công tác năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2008

Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2008

Tình hình kinh tế - xã hội năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch thương mại-dịch vụ tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo kết quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư tháng 9 và tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình điều hành bình ổn thị trường trong nước và xuất nhập khẩu tháng 8 năm 2008
Báo cáo về điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và tỷ giá tháng 8/2008
Báo cáo tình hình thực hiện chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát 8 tháng đầu năm
Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội tháng 8 năm 2008
Báo cáo đầu tư nước ngoài tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2008
Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2008
Báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2008
Báo cáo đầu tư nước ngoài tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2008
Báo cáo kết quả sản xuất-kinh doanh, dịch vụ và đầu tư tháng 7 và tình hình KT-XH 7 tháng năm 2008
Tình hình điều hành kinh tế vĩ mô tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2008, các giải pháp chủ yếu trong 6 tháng cuối năm
Tình hình kinh tế-xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2008 và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP của Chính phủ
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2008
Báo cáo bổ sung tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và triển khai kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2008
Tổng hợp tình hình Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008 của Văn phòng Chính phủ
Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2007 và mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu năm 2008 của ngành xây dựng
Báo cáo Tổng kết công tác năm 2007, triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2008 của Bộ Giao thông vận tải
Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH, an ninh, quốc phòng năm 2007 và kế hoạch năm 2008 của Thành phố Hà Nội
Kết quả năm 2007 và kế hoạch phát triển công nghiệp, thương mại năm 2008
Báo cáo tổng kết năm 2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008 của Tổng Công ty Thép Việt Nam
Báo cáo triển khai kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2008
Kế hoạch phát triển sự nghiệp Y tế năm 2008
Báo cáo tổng kết công tác thông tin và truyền thông năm 2007 và Chương trình công tác năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2008
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Quyền Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.